Monday, July 25, 2011

CHỌN TRƯỜNG - CÂN BẰNG THỰC TẾ VÀ MƠ MỘNG

Phạm Khoa

 
Elizabeth đang ân hận vì đã chọn một trường luật ở gần nhà cho tiện và ít tốn kém, để rồi sau khi tốt nghiệp, cô không thể ghi danh thi vào Luật Sư Đoàn tiểu bang, không thể xin việc ở hãng luật vì trường này không được kiểm định.

Tú được nhận vào cả trường A lẫn trường B. Tuy trường A bảo trợ toàn bộ chi phí học tập, Tú vẫn chọn trường B vì trường B nằm trong “top 10” và đứng trên trường A bảy bậc trong bảng xếp hạng các trường đào tạo về kinh doanh. Quyết định này tăng thêm gánh nặng, Tú phải vay tổng cộng $100,000 cho bằng cử nhân và gồng lên để trả nợ hàng chục năm sau khi học xong đại học. Đáng tiếc là cách biệt không đáng kể về hạng bậc trường này chẳng làm thay đổi chút nào lợi thế của Tú khi xin việc làm.

David theo ngành tài chính công và mơ ước làm việc cho một tổ chức quốc tế nhưng, nghe lời cha mẹ, cậu chọn học một trường ở California, vừa gần nhà, vừa có một học bổng $2000/năm. David đã không thấy trước rằng, lựa chọn này sẽ làm giảm 50% cơ hội vào làm việc cho các tổ chức quốc tế, tập trung phần lớn ở Washington DC và New York…

Khác với hệ thống giáo dục của nhiều nước khác,Hoa Kỳ cung cấp vô số lựa chọn về trường học cũng như ngành nghề. Bạn có thể tận dụng lợi thế này bằng cách đầu tư thời gian để chọn lựa và quyết định. Nếu bạn quyết định nhầm lẫn khi chọn lựa, bạn sẽ hối tiếc trong nhiều năm sau khi tốt nghiệp.

NHỮNG YẾU TỐ PHẢI XEM XÉT

Bạn có thể nộp đơn xin vào vài ba chục trường và đợi xem trường nào nhận mình rồi mới quyết định. Tuy nhiên, hoàn chỉnh hồ sơ xin học là một việc mất thời gian, và... tuy bạn có thể dùng lại hồ sơ của trường này cho trường khác, mỗi trường có thể có thêm một hai yêu cầu cá biệt mà bạn phải bổ túc. Hơn nữa, mỗi hồ sơ cần kèm lệ phí, càng xin nhiều trường càng tốn kém. Các chuyên gia khuyên bạn nên lựa chọn cẩn thận để đi đến một “shortlist” không quá 10 trường khi nộp đơn. Nếu bạn có nhiều tiền, bạn có thể tăng danh sách này lên 15.

Để cân nhắc, chọn lựa, bước đầu tiên bạn cần là xác định “Tôi là ai? Tôi muốn gì?”. Sự chọn lựa sẽ đi quanh hai câu hỏi này.

Nơi học và làm việc

Bạn là ai? Bạn thuộc type nào? Thích sinh hoạt hội đoàn hay yên tĩnh để nghiên cứu? Thích những bữa cơm “bình dân” và các quán cà phê nho nhỏ, hay thích ăn cơm “ký túc xá” của trường trong khung cảnh nhộn nhịp nhưng nhiều tính đại học? Thích khung cảnh đồng quê, rộng thoáng với nhiều cây xanh hay thích sự nhộn nhịp của các đô thị với đủ thứ trò vui của tuổi trẻ? Bạn có chơi môn thể thao nào cần được trường hay thành phố hỗ trợ không? Bạn thích hợp với loại thời tiết nào?

Quan trọng hơn hết, bạn theo đuổi ngành gì và muốn làm việc ở đâu sau này? Thường thường, nên học ở thành phố, hay ít nhất là cùng tiểu bang nơi bạn định làm việc. Tại sao? Thứ nhất, trong thời gian học bạn sẽ phát triển những mối quan hệ tại địa phương, điều đó có lợi cho công việc sau này của bạn. Thứ hai, khi phỏng vấn xin việc, trong nhiều ngành, bạn sẽ dễ tìm cơ hội phỏng vấn ở nơi đang học hơn là tại những tiểu bang khác (các doanh nghiệp có thể đòi hỏi nhiều hơn ở điều kiện ban đầu trước khi mời sinh viên từ xa đến phỏng vấn vì lý do đơn giản là họ phải đài thọ chi phí máy bay và khách sạn cho bạn khi mời bạn đến phỏng vấn). Trong một số ngành nghề đặc biệt, liên quan đến chính trị hoặc các tổ chức quốc tế, học tập ở thủ đô hay một số thành phố lớn nơi các tổ chức này đặt trụ sở sẽ làm tăng cơ hội của bạn lên nhiều lần khi ra trường. Một vài thí dụ khác, nếu bạn muốn làm trong lĩnh vực chứng khoán, bạn nên chọn học ở New York City hơn là Sacramento. Nếu muốn làm kỹ sư dầu khí, học ở Houston, Texas tốt hơn là một thành phố bờ biển miền Tây Bắc.

Hãy cân nhắc tất cả những yếu tố trên để “khoanh vùng” trước những tiểu bang và thành phố nơi bạn nên học. Từ đó mới xem xét những trường trong các khu vực này.

Khoảng cách với gia đình

Đa số các chuyên gia Mỹ cho rằng không nên để khoảng cách với gia đình làm một yếu tố quan trọng trong chọn lựa. Điều này đúng khi xét rằng yếu tố chọn trường đóng góp vào sự thành công trong nghề nghiệp của bạn là rất đáng kể. Tuy nhiên, đối với một số người, sự gần gũi và khả năng thăm viếng gia đình thường xuyên có ý nghĩa tinh thần quan trọng hơn đối với người khác. Nếu bạn thuộc nhóm này, cần cân nhắc để dung hoà các nhu cầu bằng cách thu hẹp phạm vi địa lý các trường xin học để có thể thăm viếng gia đình hàng tháng hay thường xuyên hơn.

Yếu tố “thực tế”

Yếu tố “thực tế” liên quan đến câu hỏi “bạn là ai?”. Mỗi trường có những yêu cầu khác nhau trong việc gọi nhập học, bạn phải hiểu rõ về bản thân, thế mạnh và thế yếu của mình khi quyết định chọn trường. Điều này vừa giúp tăng cơ hội được nhận, vừa giúp bạn vào học những trường khai thác được thế mạnh của bạn.

Tham khảo tiêu chuẩn nhập học của mỗi trường và so sánh với tiêu chuẩn của bạn: ngoài điểm GPA, bạn có thế mạnh gì mà một số trường có thể đánh giá cao không? Hãy nhằm vào các trường đó - thế mạnh này có thể bù đắp một điểm GPA không đủ cao. Thế mạnh có thể là năng khiếu thể thao hay hoạt động tích cực trong sinh hoạt hội đoàn, từ thiện, báo chí sinh viên,...

Bảng xếp hạng các trường

Ở một mức độ tương đối nhưng không thể bỏ qua, thông tin xếp hạng trường đại học hàng năm của một số tổ chức (như tạp chí US News), có ảnh hưởng thực tế lên khả năng tìm việc làm của bạn. Nhiều trường đại học theo dõi chặt chẽ các bảng xếp hạng này mà cố gắng điều chỉnh để được tăng hạng. Vì vậy, bảng xếp hạng có giá trị tham khảo nhất định. Tuy nhiên, kết quả xếp hạng chỉ là tương đối vì dựa vào những nghiên cứu và khảo sát trên những mẫu nhất định và cách biệt vài hạng trong bảng xếp hạng sẽ không ảnh hưởng gì lên tương lai nghề nghiệp của bạn. Phải cân đối các thông tin xếp hạng này với những yếu tố khác.

Còn có xếp hạng chi tiết trong từng nhóm ngành nghề (chẳng hạn xếp hạng riêng cho nhóm trường kinh doanh, trường luật, trường kỹ thuật). Một trường có khoa y tốt không hẳn sẽ có khoa kinh doanh tốt. Bạn nên tham khảo trọn cuốn sách (thường có trong các thư viện trường hoặc nhà sách) để biết chi tiết xếp hạng trong ngành học liên quan, xếp hạng về sự hài lòng của đời sống sinh viên và thông tin về tỉ lệ sinh viên ra trường có việc làm ngay. Đó là những yếu tố quan trọng nhất trong bảng xếp hạng. Bảng xếp hạng còn cung cấp nhiều thông tin hữu ích khác, như điểm SAT của đa số sinh viên được nhận vào trường, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp và tỉ lệ giáo viên đối với sinh viên.

(kèm theo cho bạn có ấn tượng về khái niệm này (chỉ để tham khảo và không có kem thông tin chi tiết).

Mức độ quan tâm dành cho mỗi sinh viên

Ở các trường đại học lớn, các lớp của sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai thường rất đông, và người dạy có thể là nghiên cứu sinh chứ không phải giáo sư. Ở trường đại học đơn ngành hoặc trường nhỏ hơn, các giáo sư sẽ đứng lớp và sinh viên phải tham gia nhiều hơn vào bài học ngay từ đầu. Tham khảo tỷ lệ sinh viên với giáo viên sẽ cho biết điều này. Tỉ lệ càng cao thì sự chú ý dành riêng cho từng cá nhân sinh viên càng thấp.

Quỹ tài chính

Chi phí học ở mỗi trường khác nhau. Tỉ lệ được đài thọ chi phí khác nhau. Học bổng cũng khác nhau vì một số học bổng đòi hỏi bạn phải học ở một số trường nhất định nào đó. Nếu chi phí học cao và ít tài trợ, bạn phải trang trải gần hết chi phí bằng vay nợ, phần lớn là có lãi, và trả góp số nợ này sẽ làm giảm thu nhập của bạn trong nhiều năm sau này khi làm việc. Trường có đem lại các cơ hội trợ tá, trợ giảng hay Cooperative Education giúp bạn vừa làm vừa học để trang trải một phần chi phí học cũng là một cơ hội cần đưa vào các yếu tố để xem xét. Nếu chi phí của hai trường cách biệt nhau đáng kể, phải cân nhắc xem các lợi ích của mỗi trường có thay đổi tương xứng không. Vấn đề tài chính được đề cập chi tiết trong loạt bài về “Học Bổng và Nguồn Tài Trợ.” 

NHỮNG BƯỚC TIẾN HÀNH ĐỂ LỰA CHỌN

Việc tìm hiểu thông tin nên bắt đầu từ 18 đến 24 tháng trước khi nhập học. Xác định trước nhất “bạn là ai, bạn muốn gì.” Kế đó nghiên cứu các nguồn thông tin và đối chiếu với nhu cầu và điều kiện của bạn. Soạn một bảng (Excel là tốt nhất) liệt kê các trường trong “tầm ngắm,” so sánh những yếu tố mà bạn cho là quan trọng trong những cột khác nhau, thí dụ, điểm SAT đa số, điểm SAT trung bình của những sinh viên được nhận, học phí, chi phí sinh hoạt, vị trí, tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ giảng viên đối với sinh viên..., kể cả một yếu tố cá biệt nào đó mà riêng bạn thấy quan trọng nếu có.

Sau khi đã có danh sách “shortlist” các trường bạn muốn chọn ưu tiên, nên viếng thăm trường. Việc thăm viếng sẽ cho nhiều thông tin thực tế cũng như kiểm nghiệm được cảm giác của bạn. Tham khảo nhiều ý kiến của người khác, kể cả cha mẹ, trước khi quyết định. Phần dưới đây sẽ nêu chi tiết hơn về các nguồn thông tin.

Ý NGHĨA CỦA VIỆC KIỂM ĐỊNH

Kiểm định cho biết trường hay chương trình đã đạt mức yêu cầu tiêu chuẩn dành cho đại học hay cho ngành xác định chưa. Có hai kiểu kiểm định căn bản: kiểm định trường và kiểm định chuyên ngành. Kiểm định trường là việc xem xét và kiểm định tổng thể một trường đại học. Kiểm định chuyên ngành là việc kiểm định các chương trình đào tạo, các khoa trong một trường đại học. Nếu một chuyên ngành của trường đã được kiểm định chuyên ngành thì thông thường là trường này cũng đã được kiểm định ở mức trường rồi. Một vài hiệp hội hoặc tổ chức kiểm định khác nhau thực hiện những việc kiểm định này.

Ở Mỹ việc kiểm định là tùy chọn, nên có một số trường, vì lý do nào đó, không tham gia kiểm định. Sinh viên ở các trường không được kiểm định có nhiều khả năng gặp khó khăn trong các việc sau:

  • Họ sẽ không đáp ứng điều kiện để được vay hoặc nhận học bổng cũng như một số danh hiệu khoa học khác. Ví dụ, nhiều chính phủ chỉ cho vay đối với các sinh viên của một trường được kiểm định;
  • Sẽ gặp khó khăn nếu sinh viên muốn các trường được kiểm định chấp nhận những môn học họ đã học hoặc văn bằng mà họ có;
  • Đối với một số nghề, đặc biệt các nghề liên quan trực tiếp đến an toàn xã hội, như nghề y, kỹ thuật, luật pháp, kế toán công, muốn thi lấy giấy phép hành nghề bạn phải tốt nghiệp từ một trường được kiểm định;
  • Nhiều người sử dụng lao động tư nhân không chấp nhận các môn học và văn bằng của một trường không được kiểm định.
     
Một tổ chức kiểm định được coi là một tổ chức kiểm định 'được thừa nhận' nếu họ là thành viên của Hội đồng Kiểm định Giáo dục Cao học (CHEA) hoặc Hiệp hội các Tổ chức Kiểm định Chuyên ngành (ASPA). Thành viên của CHEA hoặc ASPA là một dấu hiệu cho biết độ tin cậy của một hiệp hội kiểm định chương trình. Để có danh sách đầy đủ và cập nhật về các tổ chức kiểm định chương trình được CHEA thừa nhận, hãy tham khảo trang web của CHEA theo đường dẫn http://www.chea.org và trang web của ASPA tại http://www.aspa-usa.org.

Để kiểm tra việc kiểm định, vào trang web của trường để xem trường giới thiệu đã được tổ chức nào kiểm định. Bạn cũng có thể hỏi nhân viên tuyển dụng hay tư vấn của trường. Kế đến tham khảo qua các trang mạng trên để xem tổ chức kiểm định này có được thừa nhận không.

CÁC NGUỒN CUNG CẤP THÔNG TIN

Trang web của trường

Hầu hết các trường đại học đều có trang web cung cấp đầy đủ thông tin về các chương trình học lấy bằng cấp, thủ tục xin học, các bộ môn, các tiện nghi trong trường và các chủ đề khác. Rất nhiều trang web cũng cung cấp địa chỉ email của các sinh viên đang theo học tại trường, những người sẵn lòng trả lời các câu hỏi của bạn về việc xin học và cuộc sống trong trường. Khi bạn đã thu hẹp được số trường bạn quan tâm, bạn nên gởi email cho một vài nhân viên tuyển sinh, cũng như cho một vài sinh viên đang học, để nhận được giải đáp cho các vấn đề cụ thể hơn trước khi bạn ra quyết định cuối cùng xem có nên nộp hồ sơ không.

Tìm thông tin trên mạng

Một số trang web độc lập với các trường cho phép bạn tìm kiếm trường theo môn học mà bạn quan tâm, theo vị trí địa lý hoặc theo một loạt các tiêu chí khác mà bạn đưa ra. Tìm kiếm các thông tin này mất thời gian nhưng rất bổ ích. Các trang web xếp hạng trường cũng là một nguồn thông tin.

Triển lãm giáo dục

Trung tâm thông tin và tư vấn giáo dục gần nơi bạn ở nhất có thể thông báo cho bạn biết khi nào có triển lãm giáo dục hoặc các hình thức tương tự và ở đó, bạn sẽ có cơ hội được nói chuyện trực tiếp với các nhân viên tuyển sinh. Nhiều cuộc triển lãm diễn ra vào mùa xuân hoặc mùa thu trước khi bạn có ý định bắt đầu học nên bạn cần sớm tìm hiểu.


Tóm lại, chọn trường là một quyết định “đầu tư,” một quyết định đòi hỏi bạn bỏ nhiều thời gian nghiên cứu tìm kiếm thông tin và so sách các khả năng, cơ hội. Thời gian bỏ ra sẽ ảnh hưởng lớn lao đến nhiều năm sau này mà có thể bạn chưa kịp nhận ra. Vì vậy, hãy đầu tư thời gian và đầu tư một cách khôn ngoan.

HỌC BỔNG VÀ NGUỒN TÀI TRỢ

Tài trợ cho sinh viên Mỹ

Thursday, August 16, 2007
Phạm Khoa (tổng hợp)

Khái quát về chi phí đại học

Các trường đại học Mỹ đều có công bố trên trang web của họ thông tin về chi phí, thay đổi tuỳ theo trường công lập, cộng đồng hay tư thục. Chi phí sinh hoạt thay đổi tùy theo khu vực sống. Phải lên kế hoạch tài chính trước khi chọn trường, ít nhất là một năm trước khi xin nhập học, rồi theo đó bắt đầu tìm các nguồn tài trợ. Ngoài học phí còn có các loại lệ phí của trường, tiền mua sách, ăn ở và đi lại.

Mức học phí ít khi thể hiện chất lượng của trường.Trường tư thục thường có học phí cao nhất, trường công lập có học phí thấp hơn một chút và trường cộng đồng có học phí thấp nhất. Học phí trường công lập và cộng đồng càng thấp hơn nhiều nếu bạn là cư dân thường trú của tiểu bang. Để thoả điều kiện này sinh viên thường được yêu cầu cung cấp bằng chứng đã cư ngụ tại tiểu bang ít nhất một năm và có ý định sẽ cư ngụ lâu dài.Thí dụ về bằng chứng ý định cư ngụ lâu dài là bằng lái, giấy đăng ký sở hữu xe hay đăng ký bầu cử tại tiểu bang.

Đây là một thí dụ cho thấy sự khác biệt về học phí của các loại trường trong cùng tiểu bang California. Các con số đều là xấp xỉ và chỉ bao gồm học phí:

Tên trường
Loại trường
Học phí cho 9 tháng học
Sinh viên thường trú
Sinh viên khác
University of Southern California
Tư thục
$35,212
$35,212
California State University, Los Angleles
Công lập
$3,332
$13,332
Cypress College
Cộng đồng
$600
$5,460

Một trong những cách để tiết kiệm chi phí là, thay vì đi thẳng vào đại học, bạn có thể theo học một trường đại học cộng đồng để lấy bằng cao đẳng hai năm trước, và sau đó chuyển sang đại học học tiếp hai năm để lấy bằng cử nhân.

Nguồn tài trợ đại học

Chi phí đại học thường được tài trợ như sau nếu trường hứa hẹn sẽ bảo trợ TOÀN BỘ chi phí:
  • Nhu cầu tài chính” của sinh viên được tính bằng tổng chi phí dự kiến cho năm học trừ đi “phần (phải) tự trang trải” của cha mẹ và sinh viên. “Phần tự trang trải” được tính theo công thức của liên bang, căn cứ vào tài sản và thu nhập của cha mẹ và sinh viên;
     
  • Trường qui định một mức cố định chi phí trong phần “nhu cầu tài chính” làm mức mà sinh viên phải tự lo bằng cách vay và làm thêm; thí dụ ở Standford University mức này là $4,000. Sau khi trừ đi khoản $4,000 này và các khoản trợ cấp của liên bang và tiểu bang mà sinh viên nhận được, trường sẽ trợ cấp toàn bộ phần còn lại.
     
Phần phải tự lo $4,000 nói trên có thể được trang trải bằng các khoản vay của chính phủ liên bang, vay của tư nhân, đôi khi vay của trường, làm việc thêm, và các học bổng bên ngoài. Bài viết Kỳ3 'Cách tìm học bổng'trình bàychi tiết hơn về trợ cấp của liên bang, tiểu bang và học bổng bên ngoài.
Ở những trường không có hứa hẹn bảo trợ toàn bộ chi phí, sinh viên phải tự lo nhiều hơn, bằng cách vay tiền và xin học bổng. Xem danh sách các trường có hứa hẹn bảo trợ toàn bộ chi phí trong bài Kỳ 2 'Các trường cam kết bảo trợ học phí.'

Chương trình tiết kiệm miễn thuế 529

Chưa có nhiều gia đình biết về chương trình 529. Chương trình này lấy tên theo Đạo Luật 529, cho phép các bậc cha mẹ mở một tài khoản tiết kiệm đặc biệt; các khoản thu nhập bỏ vào đây tạm thời không cần đóng thuế thu nhập. Thuế sẽ được tính khi rút tiền ra khỏi tài khoản, nhưng nếu rút ra để chi cho đào tạo giáo dục, số tiền đó sẽ hoàn toàn miễn thuế. Từ năm ngoái chính phủ đã quyết định điều khoản miễn thuế này có hiệu lực vĩnh viễn. Từ đó quỹ được các bậc cha mẹ đưa vào tài khoản 529 đã tăng nhanh, theo US News, trong năm ngoái từ tổng số $68.4 tỉ lến đến $90.7 tỉ, giúp hạ thấp hơn phí mở tài khoản, càng làm tăng tính hấp dẫn của nó. Vì hiệu lực miễn thuế đã thành vĩnh viễn, các bậc cha mẹ có thể kế hoạch tiết kiệm cho đại học ngay từ khi con còn nhỏ.

Các trường cam kết bảo trợ học phí 
Thursday, August 16, 2007

Dưới đây là danh sách các trường hứa hẹn bảo trợ toàn bộ học phí cho sinh viên. Danh sách do US NEWS công bố. Để hiểu khái niệm thế nào là 'bảo trợ toàn bộ,' xem bài viết Kỳ I 'Tài trợ cho sinh viên Mỹ'.

Tên trường (Tiểu bang)

Amherst College (MA)

Antioch College (OH)

Barnard College (NY)

Bates College (ME)

Beloit College (WI)

Boston College

Bowdoin College (ME)

Brown University (RI)

Bucknell University (PA)

California Institute of Technology

Campbell University (NC)

Carleton College (MN)

Chapman University (CA)

Claremont McKenna College (CA)

Clarke College (IA)

Colby College (ME)

Colgate University (NY)

College of the Holy Cross (MA)

Columbia University (NY)

Connecticut College

Cornell University (NY)

Dartmouth College (NH)

Davidson College (NC)

Duke University (NC)

Emory University (GA)

Franklin and Marshall College (PA)

Georgetown University (DC)

Gettysburg College (PA)

Grinnell College (IA)

Hamilton College (NY)

Harvard University (MA)

Harvey Mudd College (CA)

Haverford College (PA)

Lafayette College (PA)

Lake Forest College (IL)

Lawrence University (WI)

Macalester College (MN)

Massachusetts Institute of Technology

Middlebury College (VT)

Mount Holyoke College (MA)

Northwestern University (IL)

Oberlin College (OH)

Occidental College (CA)

Pitzer College (CA)

Pomona College (CA)

Princeton University (NJ)

Rice University (TX)

Salem College (NC)

Scripps College (CA)

Smith College (MA)

Southern Arkansas University

Stanford University (CA)

St. Olaf College (MN)

SUNY College of Environmental Science and Forestry

Swarthmore College (PA)

Talladega College (AL)

Thomas Aquinas College (CA)

Trinity College (CT)

Tufts University (MA)

University of Chicago

University of North Carolina–Chapel Hill

University of Northern Colorado

University of Pennsylvania

University of Richmond (VA)

University of Virginia

Vassar College (NY)

Wabash College (IN)

Washington University in St. Louis

Wellesley College (MA)

Wesleyan University (CT)

Williams College (MA)

Yale University (CT)


Cách tìm học bổng
Monday, August 20, 2007
Phạm Khoa

Sinh viên hưởng học bổng từ hai nguồn: chính phủ và các tổ chức bên ngoài. Trợ cấp từ chính phủ bao gồm trợ cấp của liên bang và tiểu bang; sinh viên tự động được xét cấp trợ cấp chính phủ khi nộp đơn xin trợ cấp tài chính. Ở các trường cam kết hỗ trợ toàn bộ chi phí, mức tài trợ của trường sẽ giảm bằng số tiền sinh viên đã được chính phủ nhận trợ cấp. Học bổng từ các tổ chức khác rất đa dạng và thường được xét bằng cách cạnh tranh.

Trợ cấp của chính phủ

Trợ cấp liên bang -- Trợ cấp Pell Grant dành cho sinh viên theo đuổi bằng đại học đầu tiên, mỗi năm học khoảng $400 đến $4,310. Trợ cấp FSEOG dành cho sinh viên đã nhận Pell Grant nhưng có thu nhập gia đình quá thấp; mức trợ cấp tối đa là $4,000 một năm. Liên bang còn có trợ cấp căn cứ vào học lực (điểm trung bình ít nhất 3.0), thêm vào các trợ cấp trên và chỉ dành cho công dân Mỹ, bao gồm Academic Competitiveness Grant $750 cho năm đầu và $1,300 cho năm thứ hai, và National SMART Grant tối đa $4,000 mỗi năm cho năm thứ ba và thứ tư trong các ngành công nghệ và tin học.

Trợ cấp tiểu bang -- Mỗi tiểu bang cũng có những chương trình trợ cấp thêm vào trợ cấp liên bang, căn cứ vào nhu cầu tài chính. Ở California, trợ cấp tiểu bang bao gồm Cal Grant A và Cal Grant B. Cal Grant A trợ cấp tối đa là $2,334 và Cal Grant B là $1,551 cho năm đầu tiên và $3,885 cho năm thứ hai. Sinh viên chỉ được nhận một trong hai loại trợ cấp này.

Tìm học bổng khác như thế nào?

Học bổng không hề làm giảm trợ cấp từ phía trường, mà ngược lại sẽ giảm bớt phần phải tự trang trải của sinh viên. Nhiều học bổng còn là một đóng góp quan trọng vào giá trị resume của bạn vì nó thể hiện tài năng.

Học bổng đến từ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp tư nhân. Mục đích của họ thường là để phát triển cộng đồng, từ đó thu hút tuyển dụng người tài, hoặc để phục vụ các mục tiêu xã hội. Để bắt đầu “săn” học bổng, hãy xét lại tất cả những thế mạnh của bạn - những đặc tính thường phù hợp với mục tiêu của học bổng:

  • Bạn có viết giỏi không? Nhiều học bổng kêu gọi thi viết về những vấn đề xã hội mà tổ chức cấp học bổng quan tâm. Thí dụ, học bổng Akademos/TextbookX.com cấp 3 học bổng từ $250 đến $2,000, chọn lọc từ một cuộc thi viết luận ngắn; đề tài viết năm nay là các quốc gia có trách nhiệm gì trong việc ngăn cản các thiệt hại về môi trường.
     
  • Bạn có thuộc nhóm “thiểu số” nào không: phụ nữ, gốc Á Châu, người cao tuổi, người theo đuổi một ngành nghề đang được nhiều tổ chức xã hội quan tâm, vvv? Thí dụ, Asian American Scholarship cấp 3 học bổng đến mức $6,000 cho sinh viên cao tuổi Mỹ gốc Á Châu căn cứ vào thành tích học tập. Học bổng của AWIS – Association of Women in Science - cấp khoảng 5 đến 8 học bổng $1,500 đến $2,000 mỗi năm cho phụ nữ học các ngành khoa học ở miền Tây tiểu bang Washington. Những ngành thường được học bổng là các ngành phục vụ cộng đồng, nhưng các tổ chức hội đoàn và doanh nghiệp của mỗi ngành nghề cũng có một số học bổng cho ngành của họ.
     
  • Bạn có năng khiếu gì? Loại học bổng phổ biến cho năng khiếu là học bổng thể thao do các trường đại học cấp. Mỗi năm các đại học Mỹ cấp học bổng thể thao cho tổng cộng 126,000 sinh viên, nhằm tuyển mộ các tài năng thể thao về học trường mình. Nếu bạn có năng khiếu thể thao, bạn nên liên lạc thật sớm với trường để tìm hiểu về học bổng này.
     
Hiểu rõ các thế mạnh của mình cũng là điều kiện quan trọng để “dành” được học bổng. Nói chung, nguyên tắc để thành công trong việc xin học bổng, cũng như trong mọi việc khác trên đời, là LÀM VÀ LÀM HẾT MÌNH ĐIỀU BẠN THÍCH. Mỗi con người có khuynh hướng trở nên xuất sắc chỉ khi họ làm đúng điều họ yêu thích, vì đó chính là năng khiếu. Nếu bạn thích chơi thể thao, hãy chơi thể thao, rồi bạn sẽ dễ dàng lấy được học bổng thể thao. Nếu bạn thích viết, hãy đầu tư viết, rồi bạn sẽ dễ dàng dành học bổng thi viết. Nếu bạn thích khoa học, hãy theo đuổi khoa học, rồi bạn sẽ dành được nhiều học bổng khoa học và thành công trong khoa học. Nếu bạn yêu thích khoa học nhưng chọn ngành luật, bạn sẽ khó mà dành học bổng về luật, và cũng khó thành công ở trường luật.

Xác định những thế mạnh nói trên sẽ giúp bạn xác định “key word” trong khi tìm học bổng. Bạn có thể tham khảo sách danh mục học bổng có ở thư viện trường, nhưng cách nhanh và dễ nhất là dùng các trang web hỗ trợ tìm học bổng. Dưới đây là một số trang web phổ biến:


Cách xin một học bổng
Monday, August 20, 2007
Làm một hồ sơ xin học bổng thành công

Phạm Khoa

Hầu hết học bổng yêu cầu bạn phải nộp resume và vài thư giới thiệu. Thư giới thiệu là thư nhận xét về năng lực, học vấn và có thể là tính cách của bạn, do một người quen biết nhưng không phải gia đình, viết. Một số học bổng còn yêu cầu viết tiểu luận về bản thân.

Hãy dành nhiều thời gian chăm chút những tài liệu nói trên. Lập hồ sơ xin học bổng với tâm niệm rằng những người xét học bổng sẽ phải đọc hàng ngàn hay chục ngàn hồ sơ như vậy, và có lẽ chỉ bỏ ra vài phút để lướt qua mỗi hồ sơ. Phải làm cho resume, tiểu luận và thư giới thiệu của bạn “sáng trưng” và đáng nhớ bằng những thông tin và trình bày đặc sắc, có tính sáng tạo. Cho người đọc thấy bạn có những thành tích gì khác người, đã vượt qua những khó khăn trong cuộc sống ra sao và có những mơ ước gì. Phải cân nhắc đến mục đích tìm kiếm của tổ chức cấp học bổng. Nếu họ quan tâm đến cộng đồng, cho họ thấy bạn đã có những hoạt động gì phục vụ cộng đồng.

Người đầu tư cho các học bổng thường muốn chọn những sinh viên có tiềm năng gây ảnh hưởng tích cực trên cộng đồng trong tương lai. Vì vậy nên cho thấy khả năng “gây ảnh hưởng” của bạn trong hoạt động xã hội, sinh hoạt học tập hoặc viết lách. Sinh viên càng có nhiều sinh hoạt ngoại khoá càng có nhiều khả năng dành được học bổng. Hoạt động ngoại khoá có thể là các cuộc thi đua giữa các trường về mọi lĩnh vực, thể thao, âm nhạc, các câu lạc bộ của sinh viên, từ thiện, vvv.

Khi viết tiểu luận cũng như resume, nhớ rằng kể chuyện thành công là kể về “sự kiện” chứ không phải “tính chất.” Thí dụ, viết “ông ta là một người thật thà” sẽ không thuyết phục và dễ nhớ bằng viết “ông ta thấy một bà làm rớt đồng hồ Omega ở thương xá Phúc Lộc Thọ và lượm trả lại cho bà ta.” Học bổng thường nói rõ yêu cầu về đề tài viết tiểu luận. Nếu họ chỉ yêu cầu chung chung là “về bản thân bạn,” thì bạn phải cân nhắc cẩn thận bố cục bài viết. Đừng kể lể lại nội dung của resume, hay tường thuật tiểu sử theo thứ tự thời gian. Bài viết thành công thường là bài kể chuyện về một chọn lựa quan trọng trong đời, một bước ngoặc, một quá trình vượt qua khó khăn, một câu chuyện thể hiện tính cách hay sức ảnh hưởng của bạn, hay thậm chí một thất bại đã giúp bạn trưởng thành.

Thư giới thiệu tốt nhất là do những người đã có dịp làm việc gần gũi với bạn viết. Giảng viên, giáo sư, cấp trên, huấn luyện viên, linh mục trong tôn giáo hoặc đồng sự trong các sinh hoạt xã hội, từ thiện. Nếu bạn xin thư giới thiệu của giảng viên hay giáo sư, nên nhớ lúc phù hợp nhất là khi khoá học vừa kết thúc, vì lúc đó giảng viên còn nhớ rõ về bạn và biểu hiện của bạn trong lớp. Phải xin thư giới thiệu ngay khi học xong một khoá học, và để dành sử dụng khi cần. Khi xin thư giới thiệu, nhớ viết sẵn cho người giới thiệu rõ những thông tin cần biết để làm súc tích nội dung giới thiệu: điểm thi, công việc hay luận văn cụ thể bạn đã làm cho họ, tên họ, địa chỉ của bạn và các giải thưởng hay bằng khen bạn đã nhận được nếu có.

Tìm học bổng không dễ dàng, nhưng là việc trong tầm tay nếu bạn chịu đầu tư thời gian. Đầu tư này rất xứng đáng vì những ích lợi cả về tài chính lẫn giá trị nghề nghiệp cho cuộc đời.

Tài trợ việc học sau đại học
Thursday, August 23, 2007
Phạm Khoa


Có ít nguồn tài trợ cho việc học cao học hơn là đại học. Đa số sinh viên học sau đại học phải vay những khoản tiền khá lớn, phần lớn là các khoản vay không được tài trợ lãi suất. Sinh viên đã sử dụng gần hết quota các khoản vay có tài trợ lãi suất của chính phủ trong thời gian đại học, nên không còn thể vay cho sau đại học nữa. Điều này không có nghĩa là không có các nguồn học bổng cho việc học sau đại học, nhưng các nguồn này rất hạn chế. Bạn nên “mở rộng” tầm tìm kiếm. Bí quyết chung là đóng góp hữu ích – làm những việc các tổ chức cấp tài trợ cần để đổi lấy tiền tài trợ. Bí quyết quan trọng thứ nhì là, vì có rất nhiều nhu cầu học bổng và tài trợ, càng nộp đơn xin sớm bạn càng có khả năng thành công hơn. Nghĩa là, “nhanh chân,” càng sớm càng tốt.

Trợ tá, trợ giảng

Các đại học Mỹ thường dùng cách tuyển sinh viên làm trợ tá, trợ giảng để có một nguồn lao động giá thấp. Cách này cũng hấp dẫn đối với sinh viên vì nó đem lại một kinh nghiệm thú vị cùng với giải quyết một phần nhu cầu tài chính. Dạng tài trợ này thường bao gồm miễn một phần hay toàn bộ học phí và cung cấp thêm một khoản trợ cấp chi phí sinh hoạt nhỏ. Sinh viên được tuyển dụng có thể phụ giúp giảng dạy ở đại học, phụ giúp trong các công trình nghiên cứu của giáo sư, hoặc chủ trì một số hoạt động khác như chấm điểm bài vở và hướng dẫn các sinh hoạt đại học. Nếu quan tâm, bạn nên liên lạc với trường để xin trợ giảng thật sớm, cùng lúc nộp đơn xin học, thay vì đợi đến khi niên học bắt đầu.

Vừa học vừa làm

Nhiều tổ chức chính phủ và công ty lớn có thể giúp tài trợ một phần học phí nếu bạn vừa học vừa làm cho họ. Bạn cũng có thể cân nhắc làm việc cho một trường đại học. Nhiều trường có chương trình giảm học phí cho nhân viên.

Trợ cấp bảo vệ luận văn hoặc đề tài nghiên cứu

Nhiều doanh nghiệp và các hiệp hội đầu tư tìm người cho lĩnh vực chuyên môn họ quan tâm, đặc biệt là khi bạn thực hiện một công trình nghiên cứu về một đề tài cụ thể. www.grants.gov là trang web của chính phủ liên bang, liệt kê toàn bộ học bổng của các cơ quan chính phủ. Bạn cũng có thể xin học bổng qua mạng này.

Hai trang web đại học khác có danh mục học bổng sau đại học khá súc tích là Cornell University Graduate School và Duke University:



Giáo dục hợp tác – Cooperative Education

Nhiều trường có các chương trình Giáo Dục Hợp Tác, cho phép sinh viên kết hợp việc học lý thuyết ở trường với một công việc trong ngành, ở bên ngoài, có trả lương. Chương trình này là một sự hợp tác ba bên: trường, công ty và sinh viên. Hiện nay có khoảng 900 trường có chương trình này, với khoảng 200,000 sinh viên tham gia. Bạn có thể tham khảo phần “career” trên trang web của trường để xem trường có chương trình này không.

Học bổng cho sinh viên nước ngoài
Monday, August 27, 2007
Pham Khoa (Tổng hợp)

Phần lớn học bổng chỉ dành cho công dân Mỹ, hoặc chí ít là thường trú nhân của Mỹ. Tài trợ cho sinh viên nước ngoài khá hạn chế, nhưng thành tích học tập và làm việc rất hữu ích trong việc giúp bạn tìm nguồn tài trợ. Bạn cũng nên cân nhắc các phương thức “vừa học vừa làm” đề cập trong bài Tài trợ việc học sau đại học.”

Các phương cách tài trợ

Tài trợ của trường --Bạn nên liên lạc một vị cố vấn giáo dục của trường để hỏi cách tìm hỗ trợ tài chính dành cho sinh viên nước ngoài. Các trường tư thục có nhiều khả năng sẽ cấp tài trợ cho sinh viên nước ngoài hơn là trường công lập. Ngoài ra, các ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên cũng dễ kiếm tài trợ hơn các ngành khác.

Theo các Tòa Lãnh SựHoa Kỳ, tổng số học bổng toàn phần của các trường mỗi năm dành cho các sinh viên nước ngoài là khoảng 1,000, và chỉ có khoảng 100 trường cấp loại học bổng này. Để dành được học bổng toàn phần, bạn phải là một trong những sinh viên hàng đầu ở nước mình, có điểm SAT và TOEFL cao, và có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực khác chẳng hạn như khả năng lãnh đạo hoặc phục vụ cộng đồng. Tỉ lệ ứng viên dành được học bổng là khoảng 1/20.

Một số trường ở Mỹ cam kết hỗ trợ toàn bộ chi phí cho sinh viên. Phần hỗ trợ này được tính sau khi trừ đi phần phải tự trang trải của sinh viên, căn cứ vào thu nhập của gia đình (để hiểu thêm khái niệm “hỗ trợ toàn bộ,” xem bài viết “Tài trợ cho sinh viên Mỹ”. Về nguyên tắc, nhiều trường cũng hỗ trợ cho sinh viên nước ngoài theo chế độ này, nhưng thực tế sinh viên nước ngoài rất khó cạnh tranh để được nhận vào những trường này.

Vay tiền --Bạn có thể vay một phần tiền chi phí học tập. Cố vấn giáo dục của bạn ở trường có thể cung cấp thông tin về các chương trình cho vay mà bạn đủ điều kiện tham gia. Thường thì bạn phải được một công dân Mỹ cùng ký tên bảo lãnh khoản vay.

Đi làm -- Luật hiện hành chỉ cho phép sinh viên nước ngoài được làm việc bán thời gian - không quá 20 giờ một tuần - và trong năm học đầu tiên chỉ được làm việc trong trường. Các công việc ở trường có thể bao gồm làm việc tại các cơ sở của trường như hiệu sách, thư viện, câu lạc bộ sức khỏe, hoặc trong các phòng hành chính của trường. Bạn cũng nên cân nhắc các chương trình trợ tá, trợ giảng và chương trình Cooperative Education. Các chương trình này được đề cập chi tiết trong bài Tài trợ việc học sau đại học.”

Học bổng thể thao --Học bổng này của các trường nhằm tuyển mộ tài năng thể thao. Học bổng thể thao thường không phân biệt bạn có là công dân Mỹ không, nên cũng là một khả năng đáng chú ý của sinh viên nước ngoài.

Các học bổng quốc tế -- Một số các tổ chức chính phủ và phi chính phủ có các học bổng dành riêng cho người nước ngoài. Các nguồn này hạn chế và có tính cạnh tranh cao nhưng rất hấp dẫn. Phần dưới đây thảo luận chi tiết hơn về một số học bổng lớn.

Học bổng

Dưới đây là một số học bổng lớn, có mỗi năm, hầu hết là TOÀN PHẦN, cho sinh viên nước ngoài. Các học bổng này tài trợ việc đào tạo sau đại học cho những cá nhân thể hiện được thành tích xuất sắc trong hoạt động nghề nghiệp hay xã hội. Hầu hết đòi hỏi ứng viên đã có một thời gian làm việc chuyên môn ít nhất là 3 năm, và ưu tiên cho các thành phần “thiểu số” như phụ nữ và sắc dân thiểu số. Hầu hết ưu tiên cho các ngành liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế, xã hội hoặc đến Hoa kỳ học, như Văn học Mỹ, các ngành Hoa Kỳ học, Quản trị kinh doanh, các ngành về Truyền thông, Quan hệ công cộng, Báo chí, Kinh tế học, Phát triển kinh tế, Sức khoẻ, Môi trường, Quản lý giáo dục, Nghệ thuật, Công nghệ tin học, Quan hệ quốc tế, Luật, Quản lý thư viện, Hành chính công, Chính sách công, Công việc xã hội, Giảng dạy Anh ngữ, Qui hoạch đô thị và Phụ nữ học.

Chương trình du học sinh Fulbright – chương trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đưa sinh viên từ các nước đến Mỹ học cao học hoặc tiến sĩ. Mỗi năm Fulbright cấp học bổng cho khoảng 1,800 sinh viên từ nhiều nước khác nhau. Thông tin về học bổng này thường được phổ biến trên trang web của Lãnh Sự Quán Mỹ nước sở tại.

Chương trình học giả Fulbright – chương trình của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ tài trợ cho học giả nước ngoài đi giảng dạy hoặc nghiên cứu tại các viên nghiên cứu hoặc trường đại học ở Mỹ, trong thời gian từ ba đến chín tháng. Ứng viên phải có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ ngành tương ứng. Thông tin về học bổng này cũng được công bố trên trang web của Lãnh Sự Quán Mỹ.

Chương trình học bổng Hubert Humphrey -- Ðây là chương trình học tập, nghiên cứu trong một năm, không cấp bằng, dành cho những viên chức trẻ có triển vọng thăng tiến trong nghề và có nguyện vọng phục vụ công cộng. Người trúng tuyển sẽ theo học một năm ở Hoa Kỳ, trong đó có thực tập chuyên môn, đi thực tế, tham gia hội nghị và hội thảo về lĩnh vực liên quan. Thông tin về học bổng này cũng thường được công bố trên trang web của Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ ở nước sở tại.

Chương trình Ford Foundation International Fellowships (IFP) – IFP là chương trình của International Fellowships Fund, một tổ chức có trụ sở ở New York City. Chương trình nhằm đem lại cơ hội học cao học cho các cá nhân xuất sắc để họ có thể áp dụng cơ hội học này giúp đỡ sự phát triển kinh tế và cộng đồng xứ sở họ. Học bổng này đã hoạt động ở 22 quốc gia, và cấp khoảng 20 đến 30 học bổng hàng năm ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, học bổng này do Center for Educational Exchange with Viet Nam (CEEVN) quản lý. Thông tin cung cấp trên trang web của CEEVN: http://www.acls.org/ceevn/2007IFPVn.htm.

Chương trình World Fellows của Yale University -- Mục tiêu của chương trình này là “phát triển một mạng lưới quốc tế các nhà lãnh đạo tiềm năng.” Chương trình này của Yale mỗi năm cấp học bổng toàn phần cho 18 người từ khắp nơi trên thế giới đến Yale dự một học kỳ học chuyên biệt về quản lý và lãnh đạo không cấp bằng. Thông tin về chương trình này có trên trang web của Yale University: http://www.yale.edu/worldfellows/html/program.html.

Chương trình Nhật Bản / World Bank – Chương trình này do Chính Phủ Nhật Bản tài trợ, Ngân Hàng Thế Giới quản lý, và ứng viên phải là công dân của một nước thành viên của Ngân Hàng Thế Giới. Tên viết tắt của chương trình là JJ/WBGSP. Ứng viên phải ở trong độ tuổi 25 đến 45. Học bổng cấp cho việc học cao học trong các ngành học liên quan trực tiếp đến phát triển; chương trình này không tài trợ học MBA, tiến sĩ (PhD) hay tiến sĩ luật (JD). Chương trình này đã có 20 năm, và đến nay đã cấp khoảng 2,500 học bổng, chọn lựa từ khoảng 53,000 ứng viên. Thông tin được cung cấp trên trang web của Ngân Hàng Thế Giới: http://go.worldbank.org/DEYLG799V0.

Chương trình học bổng quốc tế của hội American Association of University Women -- Chương trình này nhằm hỗ trợ cho phụ nữ, cấp học bổng $18,000 cho phụ nữ học cao học và $20,000 cho phụ nữ học tiến sĩ ở Mỹ. Năm học 2006-2007 vừa qua, chương trình đã cấp 51 học bổng, chọn lựa trong số hơn 700 ứng viên từ hơn 100 quốc gia. Thông tin được cung cấp trên trang web của Hội: http://www.aauw.org/fga/fellowships_grants/international.cfm.

Chương trình học bổng riêng cho sinh viên Việt Nam: VEF -- Quỹ Giáo Dục Việt Nam (Vietnam Education Foundation, VEF) là một tổ chức chính phủ độc lập do Quốc Hội Hoa Kỳ thành lập và chính phủ Hoa Kỳ tài trợ hoạt động. Mục tiêu là trao đổi giáo dục về khoa học và công nghệ với Việt Nam. Học bổng cấp cho sinh viên Việt Nam theo học cao học hoặc tiến sĩ ở Mỹ trong các ngành nghề về khoa học tự nhiên hoặc kỹ thuật công nghệ. Sau vài năm hoạt động, học bổng đã đưa khoảng 200 sinh viên sang Mỹ du học. Thông tin cung cấp trên trang web cũa VEF: http://home.vef.gov/





CALIFORNIA ƯU ĐÃI NHỮNG NGHỀ GÌ?

Wednesday, December 05, 2007
Phạm Khoa

Trận cháy rừng lịch sử mùa thu năm 2007 và cuộc khủng hoảng tín dụng và địa ốc kéo theo nhiều biến động trên thị trường lao động ở California. Tuy nhiên, đời sống vẫn tiếp diễn, và California vẫn là thị trường lao động lớn nhất Hoa Kỳ, hôm qua và hôm nay, đã tạo ra khoảng 15.5 triệu việc làm, chiếm đến 11% tổng số việc làm hiện có trên cả nước. Thị trường lao động hấp dẫn này ưu đãi những nghề gì?

NHỮNG NGHỀ CÓ NHIỀU VIỆC LÀM NHẤT Ở CALIFORNIA
California vẫn tiếp tục, với một khuynh hướng lâu dài, là thủ đô của ngành điện ảnh, giải trí và công nghệ thông tin của Hoa Kỳ. Cho nên, không có gì lạ là California cung cấp một tỉ lệ đa số các công việc thuộc những ngành này. Số việc làm cho các ông bầu quản lý nghệ sĩ, diễn viên và vận động viên ở California là 3,370, chiếm 30.3% tổng số việc làm nghề này của cả nước. Số việc làm cho kỹ sư hardware (phần cứng) ở California chiếm đến 28.8%, và của kỹ sư software (phần mềm) ứng dụng chiếm đến 19.1%, tổng số việc làm nghề này trong cả nước. Những nghề khác cũng tụ tập nhiều ở California là thiết kế thời trang, kỹ sư hàng không, nghiên cứu y dược, hoá sinh, lý sinh, và nghiên cứu toán học.
Trong nhiều năm tới, những nghề (đòi hỏi bằng cử nhân) được giới chức lao động dự đoán sẽ tăng trưởng nhanh nhất ở California là chuyên viên phân tích dữ liệu thông tin và hệ thống mạng (mức tăng trưởng 10 năm 2004-2014 là 59.1%), kỹ sư phần mềm tin học (46%), chuyên viên quản lý hệ thống mạng và vi tính (41.9%), chuyên viên quản lý cơ sở dữ liệu (41.6%), trợ tá nha sĩ về dịch vụ làm sạch răng (41.%), trợ tá bác sĩ (37.3%), và ông bầu quản lý của nghệ sĩ, diễn viên và vận động viên (33.9%).


Những lĩnh vực kinh doanh dự đoán có nhiều khả năng sẽ THIẾU nhân lực nhất, căn cứ vào so sánh giữa số người tốt nghiệp từ các khoá đào tạo hàng năm trong phạm vi tiểu bang với số cơ hội việc làm mở ra, là:
•Sản xuất siêu bán dẫn và các thiết bị điện tử khác

•Sản xuất thiết bị điện

•Xuất bản phần mềm

•Viễn thông, ngoại trừ satellite

•Sản xuất dược phẩm

•Các cửa hàng chăm sóc sức khoẻ và cung cấp dịch vụ cá nhân

•Phục vụ du lịch, khách sạn

•Các cửa hàng điện tử và thiết bị điện

•Nhà hàng

•Môi giới chứng khoáng

•Sản xuất máy móc công nghiệp

•Mua bán trên mạng

•Thiết kế hệ thống dùng cho vi tính

•Dịch vụ điều dưỡng và chăm sóc y tế

NHỮNG NGHỀ CÓ THU NHẬP ĐẶC BIỆT CAO Ở CALIFORNIA
Mức trả thu nhập trung bình ở California cao hơn mức trung bình chung của cả nước 10.8%. Tuy nhiên, có một số nghề được California trả lương cao vượt xa so với mức trung bình chung, và một số nghề khác có tốc độ tăng lương cao đặc biệt.
Trong số những ngành có mức lương đặc biệt cao ở California là các nghề chuyên môn về trắc địa và bản đồ, có mức lương trung bình cao hơn mức của Hoa Kỳ từ 31.9% đến 49.1% tuỳ nghề và cấp bậc. Nghề nghiên cứu trắc địa còn là một trong 5 nghề có mức lương tăng nhanh nhất (87.2%) trong thời gian 2002-2006 ở California, theo National Occupational Supply-Demand Consortium.
Một nhóm nữa được California trả lương đặc biệt cao là nhóm các nghề hỗ trợ trong ngành y tế, như kỹ thuật viên khoa thần kinh, chuyên viên trị liệu, kỹ thuật phòng lab, kỹ thuật viên dược, trợ tá nha sĩ và y tá. Các nghề này ở California hưởng lương cao hơn mức trung bình của cả nước từ 20.4% đến 41.9%. California là một trong năm tiểu bang trả lương cao nhất cho nghề y tá. Trong thời gian 2002-2006, các nghề chuyên viên trị liệu (therapists) đều được tăng mức lương trung bình từ 20% đến 50%. Trong khi đó, nghề bác sĩ, nha sĩ lại là nghề mà mức lương trung bình ở California thấp hơn mức chung của cả nước, khoảng 10% đến 13%.
Nếu bạn học tài chính, chọn tư vấn tài chính cá nhân (personal financial advisor)! Đây là nghề có mức lương trung bình cao nhất trong các nghề thuộc nhóm tài chính năm 2007, $95,797. Đứng thứ nhì sau tư vấn tài chính cá nhân là phân tích tài chính (financial analyst), $88,739.
Nếu bạn học công nghệ thông tin, nghiên cứu khoa học thông tin là nghề có lương cao nhất ở California, $120,246, và kế đến là kỹ sư phần mềm, $99,184 (kỹ sư phần mềm hệ thống) và $94,559 (kỹ sư phần mểm ứng dụng). Trong thời gian 2002-2006, mức lương trung bình của nghề nghiên cứu khoa học thông tin tăng đến 28.4%.
Nếu học ngành kỹ sư, mức lương cao nhất hiện nay ở California dành cho kỹ sư dầu khí, kỹ sư phần cứng vi tính, kỹ sư hàng không, kỹ sư điện tử và kỹ sư nguyên tử.
Trong ngành y tế, mức lương cao nhất ở California thuộc về nha sĩ niềng răng, $191,751, bác sĩ sản/phụ khoa, $183,935, bác sĩ khoa thần kinh, $182,428, và bác sĩ giải phẫu, $170,937.
Bảng I
Những nghề hưởng lương cao nhất ở California trong mỗi nhóm nghề chính:

Tài chính




Thu nhập trung bình năm 2007
1
Tư vấn tài chính cá nhân
Personal Financial Advisors
$95,767
2
Phân tích tài chính
Financial Analysts
$88,739
3
Chuyên viên tín dụng
Loan Officers
$75,595
4
Định giá địa ốc
Appraisers and Assessors of Real Estate
$72,542
5
Phân tích kế hoạch tài chính
Budget Analysts
$72,460
Công nghệ thông tin






1
Khoa học thông tin và vi tính, nghiên cứu
Computer and Information Scientists, Research
$120,246
2
Kỹ sư phần mềm, phần mềm hệ thống
Computer Software Engineers, Systems Software
$99,184
3
Kỹ sư phần mềm, ứng dụng
Computer Software Engineers, Applications
$94,559
4
Phân tích hệ thống vi tính
Computer Systems Analysts
$79,465
5
Quản lý cơ sở dữ liệu
Database Administrators
$76,554
Kỹ sư






1
Kỹ sư dầu khí
Petroleum Engineers
$106,246
2
Kỹ sư phần cứng vi tính
Computer Hardware Engineers
$103,314
3
Kỹ sư hàng không
Aerospace Engineers
$100,289
4
Kỹ sư điện tử
Electronics Engineers, Except Computer
$96,438
5
Kỹ sư nguyên tử
Nuclear Engineers
$92,515
Bác sĩ, nha sĩ






1
Nha sĩ niềng răng
Orthodontists
$191,751
2
Bác sĩ sản/phụ khoa
Obstetricians and Gynecologists
$183,935
3
Bác sĩ khoa thần kinh
Psychiatrists
$182,428
4
Bác sĩ giải phẫu
Surgeons
$170,937
5
Bác sĩ nội khoa
Internists, General
$167,602
Khoa học






1
Khoa học vật lý
Physical Scientists
$107,867
2
Tâm lý học, trừ tâm lý học trường học
Psychologists
$103,489
3
Khoa học không gian
Atmospheric and Space Scientists
$98,988
4
Nhà vật lý
Physicists
$98,875
5
Nhà kinh tế
Economists
$91,895

Bảng II
Những nghề được California trả lương cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước Mỹ:

Chuyên môn


Mức CAO hơn so với mức trung bình cả nước
Surveying and Mapping Technicians
Kỹ thuật viên bản đồ và trắc địa
49.1%
Psychiatric Technicians
Kỹ thuật viên khoa thần kinh
41.9%
Survey Researchers
Nghiên cứu về trắc địa và bản đồ
39.4%
Emergency Management Specialists
Chuyên viên điều phối tình trạng khẩn cấp
39.2%
Geological and Petroleum Technicians
Kỹ thuật viên dầu khí và địa chất
38.9%
Appraisers and Assessors of Real Estate
Định giá địa ốc
34.0%
Therapists
Chuyên viên trị liệu
33.4%
Surveyors
Chuyên viên trắc địa
31.9%
Medical and Clinical Laboratory Technologists
Kỹ thuật phòng lab y tế
30.4%
Pharmacy Technicians
Kỹ thuật viên dược
28.2%
Animal Scientists
Khoa học động vật
25.2%
Dental Hygienists
Trợ tá dược sĩ chuyên về làm sạch răng
25.0%
Employment, Recruitment, and Placement Specialists
Chuyên viên tuyển dụng
21.9%
Computer and Information Scientists, Research
Khoa học thông tin và vi tính, nghiên cứu
20.6%
Mathematicians
Toán học
20.5%
Registered Nurses
Y tá
20.4%

* Ghi chú:những phân tích trong bài viết này căn cứ vào các số liệu thống kêvề lao động của Bộ Lao Động Hoa Kỳ, của chính phủ tiểu bang California, và trang web thống kêvề cung cầu lao động www.occsupplydemand.org.