Tuesday, August 2, 2011

HOA PHƯỢNG

Hoàng Long Hải


          Hoa phượng nở về mùa hè. Khi ve kêu thì cũng là lúc hoa phượng nở nên hai thứ nầy, ve và hoa phượng là biểu tượng của mùa hè. Cũng vì đặc tính đó, hoa phượng và ve sầu rất gần gủi với học sinh. Khi ve bắt đầu kêu và hoa phượng chớm nở trên cành là lúc bọn học trò chuẩn bị cho các kỳ thi và nghỉ hè.
            Hồi trước, nền giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng Pháp nên mỗi năm có rất nhiều kỳ thi: Thi tiểu học, thi trung học đệ nhất cấp, tú tài 1, tú tài 2. Ngoại trừ thi tiểu học, các kỳ thi khác được tổ chức hai lần trong một năm: đầu hè, cuối hè, nên học trò rất bận rộn. Khi nghe ve kêu, khi thấy hoa phượng nở là thấy lòng xao xuyến lẫn lo âu: Xao xuyến vì nghỉ hè, xa trường, xa thầy cô, xa bạn bè, lo âu vì thi cử đã gần kề.
            Những nỗi xao xuyến và lo âu ấy, dĩ nhiên, được thể hiện trong văn chương học trò; không những ở học trò mà ngay cả trong lòng những người đã bỏ trường học và bạn bè lại sau lưng.
            Ở Huế, như tôi viết trong bài ve sầu, ve đã nhiều mà hoa phượng thì cũng không ít.
            Nếu có một ngày hè nào đó, dĩ nhiên vào mùa hè, đi ngang cầu Trường Tiền, nhìn ngược lên phía Tây, hướng chùa Linh Mụ, cồn Giã Viên, người ta bỗng thấy hoa phượng nở đỏ cả hai bờ sông Hương, bên phía Thương Bạc hay bên phía bệnh viện Huế cũng vậy.
            Dọc theo hai bờ sông, từ thời Tây còn đô hộ, Tây đã cho trồng hai hàng phượng. Cây phượng cao, cành lớn. Hoa phượng nở, trước khi phượng ra lá. Lá chỉ mọc đầy sau khi hoa phượng đã kết trái. Hoa phương đỏ như màu lửa, rực rỡ cả hai bờ sông, làm cho người ta phải chú ý, trầm trồ khen ngợi vì cái vẻ đẹp rực rỡ của nó. Hoa phượng đỏ như lửa nên người Pháp gọi phượng là  flamboyant. Trong tiếng Pháp, flamboyant cũng có nghĩa là sáng chói, sáng rực, sáng ngời, sáng quắc, lòe loẹt, rực rỡ. Tất cả các định nghĩa ở trên cũng có nghĩa là màu sắc của hoa phượng.
            Kể ra, tạo hóa không những vừa nhiệm mầu mà lại còn nhân đạo. Giả tỉ màu trời, màu nước sông không xanh mà đỏ chói, cây lá không xanh mà toàn màu lửa thì chói mắt ngươi biết bao nhiêu! Màu xanh là màu dịu, làm cho mắt người ta dịu lại, thoải mái khi nhìn trời, nhìn sông, nhìn cây, lá. Tuy vậy, trong màu xanh mênh mông của nước, của trời, của cây lá, bỗng hiện lên hai hàng phượng đỏ, nổi bật trên nền xanh. Sự tương phản của màu, giữa xanh và đỏ làm cho người ta chú ý, thích thú. Cái đẹp của phượng là ở màu đỏ và cũng ở chính sự tương phản của màu sắc vậy.

            Thành phố Huế có hai khu vực: Khu thành cổ ở tả ngạn tức là khu hoàng thành, với đại nội, chợ Đông Ba, phố Gia Hội, gồm cả Ngự Viên cũ. Khu phố mới, tức là phố Tây, - theo cách gọi hồi xưa - tức hữu ngạn, gồm Morin, bệnh viện Huế, các trường học, Ga Huế, Nam Giao, Bến Ngự, cung An Định, An cựu, v.v… Phú Cam, hay tên trên giấy tờ là làng Phước Quả, không thuộc địa giới thành phố Huế mà thuộc quận Hương Thủy.
            Dĩ nhiên - tại sao gọi là dĩ nhiên, tôi sẽ phân giải ở phần sau -, khu phố mới, ngoài những cây đoác, - cây cọ Tây - người ta trồng phượng hai bên đường, nhất là con đường bờ sông, tức là đường Lê Lợi, từ đầu cầu Trường Tiền lên tới Ga Huế.
Hai bên bờ sông Hương có nhiều vườn hoa: Từ chân cầu Trường Tiền lên tới Thương Bạc, Phú Văn Lâu hay cả Vườn Ương Cây trước của Nhà Đồ (Sau nầy gọi là cửa Sập vì cửa Nhà Đồ bị sâp trong trận lụt lớn năm 1953 -) là những vườn hoa. Bên kia sông, từ Câu Lạc Bộ Thể Dục Thể Thao trở lên cho đến sân bóng tròn Trường Quốc Học, kế Đài Kỷ Niệm cũng là những vườn hoa. Bên nầy cũng như bên kia, cuối vườn hoa, sát bờ sông là một hàng cây phương dài. Khi hoa phượng nở, không những ở hai hàng hai bên đường mà còn sát bờ sông là hàng phượng thứ ba hoa nở rộ thành ra nhìn thấy một màu hoa lửa, rực rỡ cả một khung trời.
            Trong thành nội, ngày trước, phần nhiều người ta trồng nhãn hay mù u. Tuy nhiên, cũng có vài đọan đường, như con đường đi ngang cửa Ngọ Môn, song song với đường Cột Cờ, không trồng mù u hay nhãn mà lại trồng phượng.
            Cũng dĩ nhiên, trong hầu hết sân các trường học, đều trồng phượng; - ngoại trừ Quốc Tử Giám, sau nầy là trường Hàm Nghi (trước 1975). Các trường học nầy được dựng nên sau khi Tây đã đô hộ nước ta rồi.
            Hình ảnh hoa phượng nở đỏ hai bên bờ sông, trong sân trường, v.v… làm cho người Huế, học trò Huế và cả những người đến Huế vì một lý do nào đó, trong dịp hè, không thể không có những ý tưởng, xúc cảm, viết vài câu thơ về hoa phượng.
Anh “học trò Duy Khánh”, có lẽ cũng đã “trồng cây si” một hoa khôi học trò nào đó nên than vãn rằng 3 tháng hè dài như một thế kỷ: “Rồi chiều nay Hè trở lại đây. Phượng thắm rơi Phượng thắm rơi đầy, Lại cách xa nhau chín mươi ngày. Hay là một thế kỷ dài.”

           Trần Trung Đạo cũng vậy, nhà thơ viết:

Ta, học trò dù chẳng phải ra thi
Và em, đẹp như vầng trăng quê cũ
Chiều sông Hương, đêm Nam Giao không ngủ
Một gả làm thơ, nhút nhát, si tình

Huế u trầm và khó hiểu như em
Huế nhẫn nhục trong trăm ngàn nỗi khổ
Ta ghé Huế mỗi mùa hè phượng nở
Để nghe tình vương vấn buổi về thăm

                                                 (Một Chút Tình Cho Huế)
           
Trần Trung Đạo cố phủ nhận việc ông đến Huế không phải để đi thi, vì dân Quảng Nam đến Huế để đi thi thường bị chê:
           
                                    Học trò trong Quảng ra thi
                                Thấy cô gái Huế chân đi không rời.

            Tuy nói vậy, Trần Trung Đạo cũng không thể thoát khỏi lưới tình khi nhà thơ viết: “Và em, đẹp như vầng trăng quê cũ” để cho ông có những đêm không ngủ vì… si tình.
            Trần Trung Đạo là lớp sau. Lớp trước, mà cũng là người “cõi trên”, như Bùi Giáng, cũng không ra ngoài hình ảnh hoa phượng và tình yêu, cũng không thoát khỏi vòng tục lụy:

Rập rờn đầu liễu xanh buông
Mùa trăng nước đẩy xô buồn đi xa
Trang hồng kim rải ra hoa
Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai
Tơi bời ngọc trắng măng mai
Khuynh thành sắc nọ đưa vai nghiêng về.
                                         (Mùa Phượng Cũ – Bùi Giáng)

            Có lẽ cũng thấy cảnh sắc như tôi nói ở trên nên Bảo Cường viết trong bài thơ Nhớ Mùa Phượng Cũ:

Ta nhớ mùa hoa phượng
Màu hoa đỏ thắm đường
Hàng cây buồn lặng sóng
Sóng sánh bờ sông Hương
Thành quách sao ngủ vùi?
Phố cũ nhớ khôn nguôi
Người đi mờ năm tháng
Một cánh chim cuối trời.

            Cũng một “tình cảnh” như thế, có anh “thi sĩ học trò” viết:

Hoa phượng cười trong nắng hạ
Tuổi học trò tấc dạ bâng khuâng
Ngày qua ta tiếc mùa xuân
Hạ về chia rẽ tình thân tuổi ngà
(Hoa Sơn)

Hoài Châu, cũng không khác mấy với “bọn học trò”, đi thơ thẩn dưới nắng hè, để nhớ một khung trời, nhớ tiếng ve kêu và nhớ những cành hoa phượng

Tôi đi thơ thẩn dưới nắng hè,
Bỗng dưng nghe nhớ Phượng sắt se,
Ngày ấy một khung trời kỷ niệm,
Quê hương buồn rộn rã tiếng ve.

Tôi nhớ khi xưa ở quê nhà,
Cách trường tôi học chẳng bao xa,
Có cây Phượng vỹ còn xanh lá,
Một buổi hè về chớm nở hoa.

Thằng tôi ngày hai buổi đi về,
Hay dừng chân ngắm Phượng si mê,
Để có nhiều đêm tôi mơ thấy,
Phượng cười xao xuyến cả giấc mê.



          Những ý tưởng về phượng của Trần Trung Đạo, Bảo Cường và Hoài Châu cũng tương tự như Luân Hoán tróng bài thơ “Trong Sân Trường Bữa Ấy”. Tuy nhiên ở đây không phải là hoa phượng mà lai là gốc phượng. Mùa đông, hoa phượng đã tàn nhưng má thì vẫn hồng như hoa phượng. Tác giả nầy viết:

em có nhớ trong sân trường bữa ấy
giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông
gió bấc khô làm đôi má se hồng
cùng chúng bạn em ngồi quanh gốc phượng
                                                                 (Luân Hoán)  

         Ông “học trò già Kiên Giang” có khác đi chăng?! Không hẵn, khi tác giả mơ một mái tóc thề, không thể không nhớ màu hoa phượng:

Cuối tháng, thầy vô trường võ bị
Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu
Xa rời Bến Ngự sông An Cựu
Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều

Thầy sắp đi xa trò ở lại
Mùa hoa phượng cũ úa phai rồi
Cổng trường bỗng biến thành ga nhỏ
Trò tiễn thầy đi, ai ngậm ngùi
                                                     (Tóc Thề Xứ Huế)

            Ve sầu, phượng đỏ, ly biệt là tâm tư của học trò nam nữ khi “Hè về, hè về, tiếng ca nhịp phách lên khơi” như trong bài hát của Hùng Lân.
Trong ba mươi năm chinh chiến, nỗi ly biệt của thầy trò thắm thiết hơn, đau đớn hơn, đậm mùi… thuốc súng hơn và không thiếu vĩnh biệt: Thầy đi không về, và cũng lắm khi trò đi cũng không về. Ai cũng thấy, cũng biết và chấp nhận “Quốc gia hưng vong…”

Huế của các o, có nhiều phượng, hoa phượng nở vào mùa hạ. Điều đó được thể hiện qua thơ của Tiều Phu:

Huế của O . Phượng đỏ hồng lửa Hạ
Hương Giang cươì . vụn vỡ nhịp chèo khua nắng
chờ O . vương vãi chuổi hạt ngà
rụng lốm đốm . hoa vàng nền cỏ lụa...
(Tiều phu)


Tôi Tìm Huế

tôi ở đâu rơi về gốc Huế
mười năm có lẽ buồn vui
một vợ hai con có bia hộ khẩu
có một làng quê mong ngóng phía mặt trời

mà sao tôi chẳng là tôi
khi hèn mọn đánh rơi mình vào quên lãng
tôi tìm tôi lang thang
đêm nào lả chả trăng như nước mắt
trầm ngâm tôi với Ngự Bình
trước mộ đứa con trai thiếu tháng
cháu là người ngoài cuộc đời
chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính

tôi tìm tôi khuya khoắt
lập lòe lửa nhang góc phượng sương mờ
nhấp nháy hoài như mắt cây mắt gió
bên những người xe thồ xích lô gác chân lên trời nằm đợi khách
khẽ hát về "Đêm Tàn Bến Ngự"...
vâng cho đến khi tàn đêm tôi mới gặp được lời của phố
nỉ non vệ cỏ bên đường
tôi tìm tôi lửa đốt
chiều nào mỏi rời chân đứng chờ vợ đẻ
cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la
bắt chước ai tôi cắm nén nhang bên gốc xà cừ
Ngô Minh
           
            Ngô Minh tự nhân không phải là người Huế, nhưng do đời đưa đẩy về đây, sau 1975? Ở đó, kẻ ly hương đi lang thang, lã chã trăng với nước mắt, trầm ngâm với Ngự Bình, hát khẽ với “Đêm Tàn Bến Ngự” và tìm tới những gốc phượng, lập lòe với ngọn lửa nhang (hương) trên tay. Ông đi thắp nhang cho những ngôi mộ nhỏ, nơi chôn những bào thai sinh thiếu tháng. Ông quả có nhận xét tinh tế. Huế không thiếu những “nghĩa trang” nhỏ như thế ở vườn hoa cây đoác bên hông bệnh viện Huế. Hay có khi gọi là “mả ông trạng” ở đường Trung Bộ.  Huế, sau 1975, không thiếu những gian khổ, đói khát và đau buồn.

            Tế Hanh nhìn hoa phượng theo một nhãn quan đặc biệt và kỳ lạ hơn:

Lưu ly chất ngọc đọng màu bông
Cành rực hừng theo trận gió nồng
Ơi phượng! ngươi là cây đuốc sáng
Đất đầy tin tưởng vọng lên không.

Đốt cháy bao la sáng mặt trời,
Linh hồn mùa hạ hiện thân ơi!
Đời người kết tụ bao nhiêu nắng?
Trưa chói chang cao, lửa rạng ngời

Phung phí tình yêu quá mức thường
Sống thời hoàng tử, chết quân vương
Nguy nga cây nở bừng son thắm
Lộng lẫy hoa rơi sắc ngợp đường.

Ta đứng trên cao gió lộng bày
Ngọn đèn tâm tưởng đảo điên lay
Cầu ngươi hỡi Phượng tươi như máu
Dâng sáng linh hồn cánh dợn bay.

                               (Phượng - Tế Hanh)
                                                      1944
           
            Ông gọi phượng là ngọc lưu ly, là lửa, là tươi như màu máu, là cây đuốc sáng, là niềm tin tưởng, là ánh sáng mặt trời, là linh hồn mùa hạ, là nắng hạ kết tinh, là lộng lẫy màu son thắm. Ông yêu phượng và dâng cả linh hồn cho cánh phượng muốn bay. Chỗ nầy cần đặt một dấu hỏi: Có phải nhà thơ yêu một người có màu má đỏ như phượng, hay yêu một người tên phượng. Câu trả lời sẽ có sau!
Hình như Xuân Diệu có một mối tình nào đó với phượng. Mối tình của một người rời xa sân trường đã mười năm hay với một người tên phượng cũng đã mười năm. Dĩ nhiên, với tình đó, ông ca ngợi màu hoa phượng “hồng trên một cõi”, như muôn tiếng đàn cùng gảy, trong ánh sáng vòi vọi của không gian. Dù mùa hè đang vui, màu sắc hoa phượng rực rỡ, dưới con mắt Xuân Diệu, vẫn có một chút buồn nào đó trong khoảng cách thời gian “mười năm”, cùng với nỗi nhớ “mười năm” và “hiu hắt gió mười năm”.

Phượng trong sáng nảy hồng trên một cõi
Như muôn đàn cùng gảy dưới máy cao
Ánh sáng trùm trong không gian vòi vọi
Tấc lòng hè kiều diễm hoá li tao

Biển bướm đỏ rào rào trong gió mát
Lá non xanh như suối chảy trên trời
Phượng, phượng hỡi, cớ sao mà man mác
Mỗi mùa hè run rẩy dưới triều môi

Xanh đã ngủ ở dưới trời yên tĩnh;
Đỏ còn ngân trong tiếng nói dịu dàng;
Ta mơ màng thấy gió đang sóng sánh,
Trống sân trường văng vẳng đánh - mười năm.

Mười năm phượng, phượng huy hoàng vẫn phượng
Áo trắng trong ngày tháng phất phơ soi
Ta cùng mình như cành cây riết quấn
Vương lòng nhau ràng rịt biết bao đời

Phượng mười năm.... hiu hắt gió mười năm
Yêu mười năm.... nhớ muôn thuở.... mười năm

                 (Phượng Mười Năm - Xuân Diệu)

            Không riêng gì Huế mới có nhiều phượng. Nhiều thành phố khác ở Việt Nam, kể từ sau khi Tây cai trị, có trồng nhiều phượng. Hải Phòng được mệnh danh là “Thành phố hoa phượng đỏ” và Hà Nội thì, như Tạ Tỵ bày tỏ nỗi nhớ trong bài “Thương về năm cửa ô xưa”:
                       
Cầu Giấy đường hoa phượng vỹ
Nhớ thương biết mấy cho vừa

            Phượng là tên hoa mà cũng là tên người. Người ta yêu hoa phượng và cũng yêu người tên phượng, gọi phượng là “Phượng yêu” như tên một bài hát của Phạm Duy. Tác giả Hoàng Thụy thì cho rằng “Tên em chói chang” như màu hoa phượng?

Em là hoa phượng
Sao em chỉ nở
Một lần năm xưa ?
Cánh hồng tuổi thơ
Nhuộm anh nỗi nhớ
Sắc hè chói chang...

Hoa phượng vẫn nở
Mỗi bận hè sang
Mùa sau mùa trước
Sắc hè chói chang...

Nhưng người đâu thấy?
Sắc hoa đang cháy
Trên bầu trời xanh!

Hương Xuân cũng cùng một tâm trạng, nhưng phượng của Hương Xuân là phượng của Saigon:

Sài Gòn đó với chùm hoa phượng
Thật lâu rồi mà sao vẫn chưa quên
Để trong em còn mãi những muộn phiền
Ngày tháng cũ, hồn nhiên tà áo trắng
                                       (Chùm Phượng Vĩ)

            Dĩ nhiên, một nhà thơ được người đời mệnh danh là thi bá, thơ ông cũng không thể vắng bóng phượng, nhưng phượng của ông là “Phượng nở đêm nào cặp má khanh.” (Thu có nguyệt)
            Du Tử Lê cũng một thời đi “theo trời hoa phượng xưa” và rồi “mộng vữa”. Lê Du Tử trách mình hay trách người cho sự tan vỡ ấy?
người đã vì ta tan ước mơ
phấn son chưa ngát thịt da ngà
môi non đã lỡ tình đau đớn
mộng vữa theo trời hoa phượng xưa

                                Tình Sầu Du Tử Lê

            Người ta nói tới hoa phượng là để nói tới mùa hè. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông lại chờ tới mùa thu, khi hoa phương không còn thì than vãn cùng thu rằng nhớ màu hoa phượng quá, nhớ tới phượng rơi trên tóc, sắc đỏ hoa phượng như màu đỏ của pháo của một buổi chiều nào đó, tiễn em ra đi!

Hoa phượng rơi đón mùa thu tới
Màu lưu luyến nhớ quá thu ơi
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi
Sắc tươi màu pháo vui
tiễn em chiều năm ấy               
                                            Nguyễn văn Đông

            Người ta nói tới hoa phượng, Nhã Ca khác hơn, khác ở chỗ nói tới trái phượng hơn là hoa. Hoa phượng không ăn được, trái phượng có hột, hột phượng ăn thì… ngon

Quả phượng vừa khô trên nhánh cao
Cây vưà hiu quạnh cổng trường sâu
Tôi về ngó lại thời con gái
Thành phố già nua những gốc sầu
           
            Cũng không hẵn Nhã Ca ưa ăn hột phượng. Nhã Ca tìm thấy những trái phượng khô trên cành cao, như những khô héo trong cuộc đời của một đời con gái, tìm lại những khô héo ấy, trong cổng trường sâu - Cụ thể là trường Đồng Khánh, một thời Nhã Ca làm học trò ở đó. Có lẽ vậy -  Một ngôi trường cổ, trong một thành phố già nua.
            Trái với các nhà thơ khác, phượng trong thơ Nhã Ca man mác những nỗi buồn của đời, của một thời, không oán trách ai, hờn giận ai như trong thơ Du Tử Lê.

            Vậy là các nhà thơ đã nói hết những gì về hoa phượng. tôi còn chi để nói. Tôi bèn tìm trong tự điển, xem thử sách có nói gì về loài hoa nầy, cây nầy chăng.

            Tự điển “Wikipedia toàn thư” giải thích cây phượng như sau:

“Nguồn gốc, đặc điểm
“Phượng vĩ được miêu tả như là loài cây nhiều màu sắc nhất trên thế giới. Các bông hoa màu đỏ/da cam rực rỡ của nó cũng như các lá màu xanh lục sáng làm cho nó rất dễ nhận thấy.
“Phượng có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó trong các cánh rừng ở miền tây Malagasy. Trong điều kiện hoang dã, nó là loài đang nguy cấp, nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi. Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày dặc của nó tạo ra những bóng mát. Trong những khu vực với mùa khô rõ nét thì nó rụng lá trong thời kỳ khô hạn, nhưng ở những khu vực khác thì nó là loài cây thường xanh.
“Những quầy bán hàng dưới gốc phượng vĩ bên ngoài nhà thờ Santo Domingo, Oaxaca, Mexico
“Các hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ-da cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng. Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30-50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.

“Khu vực trồng
“Phượng vĩ được trồng khá phổ biến tại khu vực Caribe.
Tại Hoa Kỳ, nó được trồng ở khu vực Florida, thung lũng Rio Grande ở miền nam Texas, các sa mạc ở Arizona (đến tận Tucson) và California, Hawaii, Puerto Rico, quần đảo VirginGuam. Nó là loài cây biểu tượng chính thức của quần đảo Bắc Mariana
Phượng vĩ được coi là đã thích nghi với thủy thổ ở nhiều khu vực mà người ta trồng nó, và bị coi là loài xâm hại tại Australia, một phần là do các bóng râm cũng như bộ rễ của nó đã ngăn cản sự phát triển của nhiều loài thực vật bản địa mọc dưới tán lá của nó. Nó cũng được tìm thấy tại Ấn Độ, tại đây người ta gọi nó là gulmohar, hay tại Việt Nam.
“Quả phượng vĩ được sử dụng tại khu vực Caribe trong vai trò của bộ gõ âm nhạc với tên gọi shak-shak hay maraca.
“Cây phượng vĩ tại Blakiston St, Harare, Zimbabwe, 1975

“Mùa nở hoa
“Phượng nở hoa từ khoảng tháng 4 đến tháng 6, tùy theo khu vực.

“Ý nghiã tên
“Tên “phượng vĩ” là chữ ghép Hán Việt – “Phượng Vỹ” có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.

“Biểu tượng
“Tại Việt Nam, phượng vĩ là biểu tượng gắn liền với tuổi học trò, do mùa nở hoa của nó trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay của nhiều thế hệ học trò. Do vậy, nó gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, và vì thế người ta gắn cho nó tên gọi “hoa học trò”. Thành phố Hải Phòng là khu vực trồng rất nhiều phượng , vì thế thành phố này còn được gọi một cách văn chương là “thành phố Hoa Phượng Đỏ”. Nhà thơ Thanh Tùng có bài thơ Thời hoa đỏ đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành bài hát cùng tên, viết về những kỷ niệm của tuổi trẻ với mùa hoa phượng .”

Thật ra, theo tôi biết, có hai loại hoa phượng khác nhau chút ít: Một thứ, như trình bày ở trên, thường gọi nôm là phượng. Phượng là tên thường thấy trong văn chương. Tên phượng tây cũng vậy. Thật ra, thông thường, người ta hiểu đây là phượng ta, đối nghịch với cách gọi trong phần giải thích nói trên. Phượng tây là tiếng dùng để gọi một loại phượng khác, loại nầy cao chỉ mới quá đầu người. Chỉ cần đứng trên ghế là người lớn tuổi có thể hái được những chùm hoa trên ngọn cây. Đây cũng là loài cây mộc, nhưng cành và thân nhỏ, bông cũng mọc chùm, hình dáng như bông lau, cánh hoa màu đỏ, viền vàng. Những bông hoa phía trong thì đã nở trong khi những bông hoa đầu ngọn còn búp. Loại phượng nầy thường được trồng trong sân các đình, chùa, miếu, vũ để lấy hoa chưng trên bàn thờ; có khi cũng được trồng trong công viên. Trước 1945, khi tôi còn nhỏ, tôi đã theo người anh cả, qua “Nhà Giây Thép” xin ít cánh hoa về để bố tôi chưng trên bàn thờ.
Đây cũng là loại hoa thường được gọi là “bông cúng” - cúng bái. Tuy nhiên, loại nầy không phổ biến như hoa phượng.
Trong một cuốn sách của ông Nguyễn Tường Bách, người gốc Huế, cũng cho biết rằng loài phượng gốc gác từ Madagascar. Pháp đô hộ Madagascar trước, sau đó tới các nước Đông Dương.
Khi người Pháp bắt đầu xây dựng những thành phố mới ở Việt Nam hay chỉnh trang, phát triển những thành phố đã có từ trước khi họ đến Việt Nam, có lẽ họ đã cho nhập giống phượng từ Madagascar qua Việt Nam để trồng và làm đẹp các đường phố, các trường học, công sở, công viên ,v.v…
Thành phố Huế chẳng hạn. Ở khu phố Tây là phố mới, có nghĩa là được xây dựng sau khi Tây đã đô hộ, thì hầu hết các đường phố ở khu vực nầy được trồng phượng hai bên đường, bên bờ sông, bên cạnh những cây đoác hay cây chuối Tây cũng là loại cây được “nhập cảng.”
Ở khu phố cổ, - tả ngạn - phượngg chỉ được trồng bên bờ sông, hoặc vài ba cây còn nhỏ trên đường ngang cửa Ngô Môn - song song với đường Cột Cờ, đoạn gần cửa Ngăn. Có lẽ đây là một sự “lạc giống” được sở Công Chánh trồng “bổ sung” khi một số cây cũ đã chết.
Trong thành nội Huế, dọc theo đường Hộ Thành - nay là đường Đinh Bộ Lĩnh -, khu vực cửa Hiển Nhơn, hầu hết trồng nhãn - nhãn lồng - đường Tam Tòa trồng mù u.
Loại cây trồng ở Huế, trước khi Tây cai trị phần nhiều là thông, bàng và mù u. Người Huế có câu ca dao:

            Văn Thánh trồng thông
            Võ Thánh trồng bàng
            Ngó lên Xã Tắc hai hàng mù u.

Năm tôi học Đệ Tam với ông VĐH, môn Văn Chương Bình Dân, có đứa trong bọn chúng tôi thóc mách hỏi thầy tại sao Văn Thánh trồng thông mà không trồng bàng, Xã Tắc lại trồng mù u? Ông thầy tôi không trả lời!
Năm Đệ Nhị, học về Nguyễn Công Trứ, tôi nhớ đã học bài thơ sau đây của Nguyễn Công Trứ từ năm Đệ Tứ:
           
            Kiếp sau xin chớ làm người,
            Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
            Giữa trời vách đá cheo leo
            Ai mà chịu rét thì trèo với thông.
Cụ Võ Liêm Sơn, một nhà cách mạng, “đồng chí” với cụ Phan Bội Châu, sau nhiều năm bị đày ra Côn Đảo, được tha về, dạy học ở trường Khải Định, có bài thơ “Ngắm Non Hồng”, có mấy câu kết như sau:

            Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước:
            Bên mồ có mọc một cây thông
            Để cho xương thịt máu vung trồng
            Theo gió reo lên một khúc nhạc
            Kêu vang chín chín ngọn non Hồng.

Tôi không bàn về sự khác biệt tư tưởng giữa hai tác giả nầy: Một bi quan và một lạc quan, dù là ở “kiếp sau”, người đọc thấy rằng:
Cây thông tượng trưng cho người quân tử vì thân thẳng và cao, như người quân tử chẳng bao giờ chịu oằn lưng vì danh lợi. Tấm lòng quân tử bao giờ cũng xanh, không đổi màu, không thay lòng.
Tư tưởng đó gần gủi với văn hóa nên có phải vì vậy mà thông được trồng ở Văn Thánh, nơi thờ Khổng Tử và thất thập nhị hiền.
Võ Thánh trồng bàng?
Cây bàng gỗ cứng, chịu đựng được sức nặng, lại có tàng rộng, che nắng cho người. Có phải đó là tính chất của các võ tướng.
Xã Tắc trồng mù u?
(Xin độc giả xem bài sau: Hoa Mù u)
Về chữ phượng, “Bách Khoa Toàn Thư” còn giải thích thêm:
Chòm sao Phượng Hoàng, (tiếng La Tinh: Phoenix) là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh chim phượng hoàng.
“Đèo Phượng Hoàng
“Đèo Phượng Hoàng là con đèo nằm trên quốc lộ 26 đoạn giáp ranh giữa tỉnh Đăk Lăk với Khánh Hòa.
Phượng, hay Phượng hoàng, Phụng, là một trong 4 tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam và các nước Á Đông khác. Phượng có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vẩy cá chép, móng chim ưng, đuôi công... Các bộ phận của phượng đều có ý nghĩa của nó: đầu đội công lý và đức hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, cánhgió, đuôi là tinh tú, lôngcây cỏ, chân là đất. Như vậy nó tượng trưng cho bầu trời, khi nó bay hoặc múa (phượng vũ) là tượng trưng cho sự hoạt động của vũ trụ. Vì thế phượng là hình tượng của thánh nhân, của hạnh phúc. Nếu rồng có yếu tố dương, tượng trưng cho vua chúa thì phượng lại có yếu tố âm nên tượng trưng cho hoàng hậu và người đàn bà đẹp.”

Trước khi có cây phượng, hoa phượng, nghĩa là trước khi Tây thực dân đem cây “phượng thực dân” từ Madagascar (Tội nghiệp cho cây phượng bị mang tiếng oan khi dính chùm với thực dân) thì ở nước ta chỉ có chim phượng, hay còn gọi là chim phượng hoàng. Chim trống gọi là hoàng, chim mái gọi là phượng. Gọi chung là phượng hoàng.
Người Tàu có câu:

            Phượng hề, phượng hề qui cố hương
            Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng.

Con chim phượng trở về quê cũ (hề chỉ là tiếng đệm trong thơ cổ), sau khi ngao du khắp bốn biển để tìm con chim hoàng. Do ý nghĩa đó mà có bản đàn “Phượng cầu kỳ hoàng.”
Trong truyện Kiều, ở đoạn Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe (Bản đàn thứ nhứt), cùng một ý như trên, Nguyễn Du viết:

            “Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
        Nghe ra như oán như sầu phải chăng!

Đời nhà Hán bên Tàu, có ông Tư Mã Tương Như gảy khúc “Phượng cầu kỳ hoàng” để ve vản người đẹp Trác Văn Quân. Nghe riết thành mê, Trác Văn Quân bỏ nhà, trốn theo Tư Mã. Ai bảo người xưa không lãng mạn và đa tình và không… quậy!!!???
Như thế, trước khi có “phượng thực dân”, nếu người Việt có ai tên phượng thì tên đó có nghĩa là con chim phượng. Từ khi Tây đem phượng qua trồng ở xứ ta, thì tên phượng có hai nghĩa: Một là con chim phượng, hai là hoa phượng. Nếu cô nào, bà nào có tên kép thì có thể là Kim Phượng, Túy Phượng, Bích Phượng, Ngọc Phượng, Hoàng phượng, Lạc Phượng. Bàng Thống trong truyện Tam Quốc, hiệu là Phượng Sồ, khi đi đánh giặc qua đồi Lạc Phượng thì tự biết mình tới lúc tiêu vong.
Người bây giờ đặt tên lung tung, chẳng có ý nghĩa gì cả, miễn nghe cho kêu,  cho “rổn rảng” là được. Người xưa không thế. Tên chính hay tên đệm đều ý nghĩa phân minh. Ví dụ: Kim Phượng có hai nghĩa: Một là con chim phượng nhỏ (như kim cúc là loài hoa cúc nhỏ) họặc con phượng bằng vàng (Kim: vàng. Kim hoàn là tiệm vàng). Một tên nữa là Túy Phượng. Chữ túy có hai nghĩa: Túy là thuần một chất, như chữ thuần túy chẳng hạn. Hoặc túy là say rượu, như trong câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” (Say rượu nằm ngủ ngoài sa trường, xin chàng đừng cười) hoặc trong câu đối của Nguyễn Công Trứ: “Sáng một một rượu say túy lúy, đưa tay bồng ông phúc vào nhà). Túy Phượng là thuần một chất và say đắm phượng. Vậy là yêu lắm đấy!!!! Thúy Phượng thì trật lất: Chim Thúy không ở với chim phượng được. Thúy là loài chim nhỏ, phượng là loài chim lớn, mỏ quắp, như diều hâu, ăn thịt. Thúy ở với phượng, phượng sẽ ăn thịt thúy. Ai đặt tên Thúy Phượng là sai! Ngọc Phượng là con phượng chim phượng bằng ngọc, cũng tương tự như bích phượng vậy. Bích là tên một loại ngọc. Bích cũng có nghĩa là bức tường. Bích phượng là phượng nở đỏ cả một ven sông như bức tường đỏ, như bức tường lửa, như trận Xích Bích trong Tam Quốc, Tôn Quyền đốt cháy thuyền của Tào Tháo trên sông Trường Giang cháy đỏ rực như một bức tường lửa vậy. Xích Bích dịch theo tiếng Anh là Fire wall, là bức tường lửa ngăn chận người Việt trong ngoài nước e-mail cho nhau. Tôi nói như vậy chắc đúng đấy. Quí vị nào còn nghi ngờ xin hỏi lại thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chắc ăn hơn.
Trong bài thơ Nhã Ca, bà ta có nói tới trái phượng, nhưng không thấy nói tới việc ăn trái phượng.
Trái phượng hình giống con dao chặt cây, dẹp và dài cở ba, bốn tấc tây. Khi trái phượng đã có hột, bọn trẻ chúng tôi thường hái xuống, đập dập hai cạnh cho dễ lột thành hai mảnh, lấy hột ăn. Hột mầm hơi ngọt, hai lá mầm lạt hơn. Trái phượng khi đã già thì đen. Khi có bão, vài cành phượng gãy xuống, người ta có thể hái trái về nấu lấy hột ăn vì lúc nầy hột đã già và cứng.
Gỗ phượng thuộc loại dỗm, không đóng bàn ghế hay dụng cụ được, chỉ để đun bếp mà thôi. Gỗ nầy không có than, nếu có thì cháy cũng không bền.
Nói chung, không ai trồng phượng để lấy gỗ, chỉ là để có bóng mát và có bông đẹp khi hè tới mà thôi.   
            Tôi chưa từng thấy ở Việt Nam có phượng tím. Có lẽ tôi hơi quê chăng. Vì vậy, lần đầu tiên tới Nam Cali tôi thấy ở quận Cam có nhiều hoa phượng tím. Tôi hơi ngạc nhiên.
            Tôi không cho rằng phượng tím là đẹp mặc dù tôi vẫn thích màu tím hoa sim, hoa mua, hoa cà. Có phải tôi có định kiến hay chăng. Bởi vì cũng có không ít người khen phượng tím đẹp, hoặc nhìn phượng tím mà nhớ phượng đỏ như nhà thơ Nguyễn Nam An có mấy câu thơ tôi trích sau đây:
Phượng

Phượng ở công viên nở toàn hoa tím
Phượng xưa đỏ cành đã bỏ đi đâu
Phượng của tình tôi nhánh sầu tay hái
Phượng nay đường dài mình chẳng gặp nhau
…..

Phượng ở Mỹ châu phượng sầu hoa tím
Trống vắng lòng xe trống vắng hiên che
Tháng sáu tôi thề khi đêm ra biển
Dầu sẽ như ve hết kiếp không về

hoặc:  

Mùa Phượng Tím

Nắng Xuân ấm lung linh mời Hè đến
Gío giao mùa lay nhẹ cánh phượng yêu
Đẹp biết bao hoa tím dáng mỹ miều
Lòng rộn rã ôm chầm màu kỷ niệm

Hoàng Long Hải
Massachusetts,
một nơi không có hoa phượng!

HÃY VẤT BỎ KHỐI NẶNG CỦA TÍNH ÁC VÀ TẬT XẤU

Phan Nhật Nam


Lời nói đầu:
Xin quý vị vui lòng bỏ chút thời giờ quý báu để đọc và có thể chia sẻ....bài viết cưong trực, liêm chính, chân thành, đầy tính xây dựng, yêu thương cội nguồn quê hương và dân tộc của nhà văn Quân đội PHAN NHẬT NAM.
Cũng nên nhắc biết sơ qua (dù thừa) tác giả vốn xuất thân khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia VN (Đà Lạt) . Binh chủng nguyên lai: Nhảy Dù. 
Sau thời gian phục vụ trong Sư đoàn Dù, ông ta chuyển ra Bộ Binh trong các nhiệm vụ "phóng viên chiến trường", "nhà văn Quân đội" thuộc Tổng
Cục Chiến Tranh Chính Trị / Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày Miền Nam bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm 30-4-1975.
Sau ngày 30-4-1975, nhà văn và cũng là phóng viên Quân đội PHAN NHẬT NAM  sống tù đầy trong cái lò cải tạo của Cộng sản VN với cấp bậc Đại Úy QLVNCH và Ông đã bị giam hãm hơn một thập niên tại miền bắc VN dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.  
Và bây giờ thì xin mởi quý vị đọc bài viết của nhà văn Quân đội PHAN NHẬT NAM dưới đây.
Trân trọng,
Nguyễn Văn Trọng (K13) 
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Không gì bực mình hơn là phải nghe người ta nói thiệt! Vì lời nói thiệt dễ làm mích lòng nhau. Nhứt là đối với những người thường hay được nghe những lời ca tụng, tán dương và kể cả nịnh bợ không có thiệt về mình, về gia đình mình, về cộng đồng mình và luôn cả về dân tộc mình! 


Nói lên sự thực với người mình —người Việt Nam— quả là một chuyện hết sức khó làm. Bởi vì từ trước tới nay hầu hết những lời nói hay bài viết của người này đề cập đến người kia, nếu không là chửi bới quá đáng, thì cũng là tán dương quá độ. Trong tiến trình tán dương quá độ, mọi ngôn từ hoa mỹ đều được vận dụng để ca ngợi đối tượng, mà không có phần nào nghiêm chỉnh phê phán để cho đối tượng này thấy được những khuyết điểm cần phải sửa chữa. "Mặc áo thụng vái nhau,"đó là lối mòn mà người mình —đặc biệt là các văn nghệ sĩ— vẫn ưa dùng để công kênh nhau trên mọi phương tiện truyền thông có được, bất chấp lương tri và lẽ công bằng. Cứ hết ca ngợi lẫn nhau đến ca ngợi dân tộc mình riết như vậy rồi thành thói quen. Khi có người nào đó dám mon men vạch ra những khuyết điểm hay thói hư, tật xấu của người Việt Nam thì nhiều người sẽ lại nổi giận lên như thể là danh dự của họ đã bị xúc phạm nặng nề rồi. Không, đó chỉ là cái tự ái dân tộc hảo huyền mà thôi, thưa quý vị.

Sau khi đã nói vậy, bài viết sau đây không nhằm chê bai hay chửi bới ai hết, mà chỉ nhằm nói thiệt, tức nói lên sự thật, về những nguyên do tại sao mà một dân tộc vốn ưa hãnh diện về truyền thống lịch sử, văn hoá và đạo đức của mình như dân tộc Việt Nam mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc trầm luân nhứt thế giới nếu xét về những mặt như nghèo đói, không luật pháp, tàn ác với nhau, tự cho mình là giỏi, hay tham lam, chuyên phản phúc, luôn chê bai và chửi bới những ai không phải là chính mình, coi chuyện ăn hối lộ là quyền đương nhiên của mình, lúc nào cũng chỉ coi trọng đồng tiền và vật chất...

Còn một điều này nữa. Người viết không muốn bị những người trừ trước tới nay chỉ thích được nghe người khác tán dương hay nịnh bợ (mà nay đành thất vọng vì không được tiếp tục nghe những lời tán dương, nịnh bợ đó) chụp mũ là cộng sản (như 90% những trường hợp cho thấy), là phản quốc, hoặc là coi thường dân tộc mình... Vì vậy, người viết đành ra tay trước để phòng thủ, tạm thời tự vỗ ngực nhận mình là một trong những người chống Cộng kiên cường nhứt thế giới, người có tình yêu nước Việt Nam nồng nàn nhứt, và người duy nhứt trong cộng đồng nhỏ bé cuả mình lúc nào cũng chỉ biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết.

Dân tộc Việt Nam, ngoài những điểm ưu việt ghê gớm mà các dân tộc khác trên thế giới không có, còn có những khuyết điểm, hay nói huỵch tẹt ra là những thói xấu, mà các dân tộc kia không thể nào sánh nổi cho dù họ có cố gắng học hỏi hay bắt chước chúng ta cách mấy đi nữa. Những thói xấu này giải thích tại sao người Việt Nam mà chúng ta vẫn luôn luôn tự hào là thông minh xuất chúng đến như vậy mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc lụn bại, trầm luân nhứt thế giới, tính cho đến cuối thiên niên kỷ này.

Những thói xấu của người mình thiệt ra khá nhiều, nhiều hơn mức bình thường. Người viết bài này chỉ gạn lọc và trình bày một số tính tiêu biểu đã gián tiếp hay trực tiếp đóng góp vào tình trạng đất nước Việt Nam ngày càng xơ xác, tiêu điều, các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại ngày càng tiếp tục chia rẻ, phân hoá tưởng như không bao giờ hàn gắn được. Các thói xấu đó là:
  - không tôn trọng sự thực và lẽ phải,
  - khoe khoang và kiêu ngạo,
  - cố chấp và ngoan cố
  - độc tôn,
  - kỳ thị,
  - tàn ác,
  - thiếu cao thượng và ưa chơi gác,
  - phe đảng,
  - thiển cận,
  - ganh ghét,
  - thích làm vua làm chúa,
  - không công tâm,
  - không tôn trọng luật lệ,
  - cướp công của người khác,
  - ưa nịnh bợ, tâng bốc,
  - thích ăn hối lộ,
  - tham lam,
  - không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc,
  - không tuân giữ các cam kết...
Những dẫn chứng về xã hội và lịch sử Việt Nam —cả ở trong lẫn ở ngoài nước— có thể giúp soi rọi vào cội nguồn và những ngóc ngách của các thói xấu nêu trên. 

1. Không tôn trọng sự thực và lẽ phải: Lịch sử dân tộc Việt Nam do người mình viết có nhiều điểm mơ hồ và không đi sát sự thực, như những chi tiết liên hệ tới nguồn gốc dân tộc, về các vị nữ anh hùng, về công cuộc mở mang bờ cõi, về các lý do đằng sau việc cấm đạo Cơ Ðốc, về các triều đại nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn, và gần đây nhứt là về các chiến thắng của Vua Quang Trung trước quân nhà Thanh xâm lược. (2) Những lời đồn đại về Ngô Triều sau ngày 1-11-1963 cũng như những tập hồi ký của các cựu Tướng Ðỗ Mậu, Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Ðính... (3) cũng là biểu hiện của tính không tôn trọng sự thực của người mình. Còn lịch sử Việt Nam do Ðảng Cộng Sản Việt Nam viết nên thì lại không hề có lấy một phần mười của tính trung thực cần có trong phương pháp sử học, mà chỉ nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền và tự tôn vinh của người Cộng Sản Việt Nam. Gần như người Việt nào ở hải ngoại cũng chửi bới Cộng sản, nhưng hễ đã được về thăm quê hương thì một số lại khen lấy, khen đễ Cộng sản, cốt sao cho được việc của mình và gia đình mình chớ không hề muốn nói lên sự thực chút nào. (4) Khoe khoang và kiêu ngạo: Ðào Duy Anh, khi viết về dân tộc Việt Nam, đặc biệt chú ý tới tính hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh của người mình. Trần Trọng Kim cũng cho rằng người Việt Nam hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng. (5) ở nước ngoài, chúng ta vẫn thường nghe nói tới sự thông minh và tài giỏi của người Việt Nam, tiêu biểu là số lượng học sinh và sinh viên học giỏi, đậu cao tại các học đường Âu, Mỹ, rồi tự lấy làm hí hửng là dân tộc mình number one. Bình tĩnh mà xét, điều này cũng không có gì lạ lắm, vì có cả trăm triệu người ở Châu Âu, Châu Mỹ đậu những bằng cấp mà người mình đã, đang và sẽ đậu, nhưng họ nào có xuýt xoa hay khua chiêng, gỏ mõ gì đâu, mà chỉ im lặng làm việc và thành công sau khi đã lấy được những bằngcấp kia. (6) Ðó là chưa kể tới câu hỏi mà ai cũng nhắc tới là Một người Việt Nam thì vậy, còn hai, ba hay nhiều người Việt Nam nữa đứng chung với nhau thì sao? Còn về tính kiêu ngạo thì có lẽ không ai kiêu ngạo hơn dân tộc mình, kể cả dân Thiên Hoàng Nhựt Bản và dân Con Trời Trung Quốc. Theo lời Cộng Sản Việt Nam (và ngay cả một số những người Quốc gia bị thua trận trước đây), thì Việt Nam quả là cái thế anh hùng khi một mình đánh thắng hết mọi đế quốc sừng sỏ từ Trung Hoa và Mông Cổ tới Pháp, tới Nhựt rồi tới Mỹ. Người Cộng sản còn phô trương rằng giới lãnh đạo của họ là những bộ óc ưu việt, những đỉnh cao trí tuệ cuả loài người tiến bộ trên thế giới đã xuất thần mà đề xướng ra hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ rồi lại sáng suốt "dắt giống nòi" vào con đường xã hội chủ nghĩa. (7) Nên nhớ rằng kiêu ngạo là tính mà Ông Trời ghét nhứt, và cũng chính vì tật xấu này mà loài người hay bị Trời phạt nhiều nhứt. Các thành Sodom và Gomorrha (như được kể lại trong Thánh Kinh Cơ Ðốc Giáo) đều đã bị lửa Trời tiêu huỷ chỉ vì dân chúng ở đó quá kiêu ngạo đến nỗi lo ăn chơi sa đoạ và dâm loạn, bất chấp những điều răn của Thượng Ðế. Cứ xem dân tộc mình hiện đang bị nghèo đói, trầm luân, rên siết đêm ngày dưới ách Cộng sản thì biết ngay.

2. Cố chấp và ngoan cố: Không ai cố chấp và ngoan cố như dân ta. Cái gì của mình cũng là nhứt, còn người ta là hạng bét. Hễ đã tin là mình đúng rồi thì cứ bắt người khác phải theo cho bằng được; còn nếu sai thì vẫn cứ cố cãi cho tới chết chớ không chịu nhận là mình sai. Vua Tự Ðức không tin lời Nguyễn Trường Tộ nói là dân mình bị lạc hậu so với Tây phương, tiếp tục nghe theo Tàu gọi các nước Âu Mỹ là Tây di, rồi khư khư ôm lấy chính sách bế quan, toả cảng, để rồi cuối cùng dân tộc ta phải làm nô lệ cho thực dân Pháp. Hồi thập niên 1950-60, Hồ Chí Minh và phe đảng ông, vì tin rằng muốn cho đất nước giàu mạnh thì cả hai miền Nam, Bắc chỉ có cách là đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà thôi nên đã nhứt quyết dùng võ lực buộc chính phủ và nhân dân Miền Nam Việt Nam phải từ bỏ con đường tự do dân chủ. Còn chính quyền Ngô Ðình Diệm hồi đó thì vẫn khăng khăng cho rằng các chính đảng khác, kể cả Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Ðại Việt, không có khả năng chống Cộng như mình. Phe quân nhân sau đảo chánh 1-11-1963, vì quá tự tin ở khả năng mình, đã không để cho các nhà lãnh đạo dân sự có cơ hội cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam, cho dù họ có tài đức đến đâu. Cộng sản Việt Nam thì cho giáo điều của họ là hay nhứt, không có lý thuyết chính trị nào hay hơn, kể cả bọn xét lại Liên Sô và bọn hiện đại hoá Trung Quốc. Ngay cả sau khi Liên Sô, vị thánh tổ của Cộng sản thế giới và đại sư báọ của Cộng sản Việt Nam, đã sụp đổ cùng với khối Cộng sản Ðông Âu hồi 1991, Cộng sản Việt Nam, dù biết rằng mình đã hoàn toàn sai trái, nhưng vẫn ngoan cố không chịu nhìn nhận điều này để sửa đổi chế độ cho dân tộc được nhờ. Một số đảng viên đã ly khai của họ -- như "hồi chánh viên" Bùi Tín chẳng hạn -- vẫn cứ nhứt định cho rằng chỉ có giới lãnh đạo tại Hà Nội, chớ không phải là chủ nghĩa Cộng sản, đã sai lầm. Các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, tiêu biểu là tại Nam California, không ai nhịn ai, mạnh ai nấy xưng hùng, xưng bá, làm cho cộng đồng nát bét, chẳng qua cũng chỉ là vì tính cố chấp mà thôi.

3. Ðộc tôn: Người mình, nhứt là các nhà lãnh đạo, thường có tính ưa độc tôn, tức là chỉ muốn độc quyền làm lãnh tụ hay chỉ muốn lịch sử ghi nhận rằng không có ai ngoài họ có thể trị nước an dân. (8) Hồ Chí Minh vẫn thường nói với đám con nít: "Xưa các Vua Hùng có công dựng nước, nay Bác cháu ta có công giữ nước." (ý của họ Hồ là chính ông ta, chớ không phải là ai khác, mới là kẻ có công giữ nước.) (9) Chính vì cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ muốn thế giới coi ông là người anh hùng duy nhứt có khả năng giữ vững được Miền Nam Việt Nam khỏi bị Cộng sản nuốt sống nên ông đã cố tình làm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải tan rã (cho thiệt đúng với câu après moi le déluge, nghĩa là nếu tao mà xuống ngôi rồi thì tụi bây chỉ còn có nước đắm chìm trong bể khổ), (10) rồi lại ráng canh cho tới giờ thứ 25 mới giao quyền lại cho cựu Tướng Dương Văn Minh để cho ông này, vốn cũng không có tài kinh bang tế thế gì mấy, chỉ còn kịp đầu hàng Cộng sản mà thôi. (11) Trong các cộng đồng người Việt hải ngoại cũng vậy, phàm người không làm được việc gì để phục vụ đồng hương thì cũng chẳng thích kẻ khác làm được việc cho cộng đồng để nổi bật hơn mình. Thái độ này đã và đang là trở lực chính ngăn chặn Việt Nam tiến lên bắt kịp với trào lưu tiến bộ hiện nay của thế giới. Người Cộng Sản trong nước, dù biết chắc là họ thua tài, thấp trí và bất lực, vẫn không chịu chấp nhận một thể chế dân chủ đa nguyên để cho người Quốc gia có cơ hội đóng góp tài năng xây dựng đất nước.

4. Kỳ thị: Người Việt hải ngoại, nhứt là tại Mỹ, vẫn hay cười chê người da trắng bản xứ là kỳ thị chủng tộc này nọ.. Nhưng hãy suy gẫm kỹ mà xem thử người mình có mắc bệnh kỳ thị hay không, và bệnh đó so với người Mỹ thì nặng hay nhẹ hơn. Người viết bài này nhớ hồi nhỏ, lúc còn đi học, vẫn được mấy anh lớn trong xóm dạy cho một bài hát châm chọc người Hoa kiều -thường được gọi là "các chú" di cư sang buôn bán làm ăn tại Việt Nam. Bài hát có câu: Si-noa là giống bên Tàu, đẻ ra thằng Chệt ăn toàn... trâu! Ðối với dân tộc thiểu số miền núi (như Rhadé, Tày, Mạ, Mán...), người mình không ngần ngại gọi họ là "mọi," với ý nghĩ rằng họ là những giống người kém văn minh hơn ta đây. Dĩ nhiên là đối với hai ông bạn láng giềng Lào và Căm-Bốt thì người Việt Nam lúc nào cũng vẫn tự coi là mình hơn người ta một bậc, bất kể về phương diện nào. Lại nhớ ngày xưa khi còn lính Mỹ tại Việt Nam, những người đi làm sở Mỹ hay phụ nữ kết hôn với binh lính và sĩ quan Mỹ vẫn còn bị coi là làm chuyện kém vinh dự hay thiếu đạo đức (vì ham tiền mới làm), và con lai —dù lai Pháp hay lai Mỹ— vẫn bị xã hội mình coi rẻ, nếu không bảo là khinh khi, gọi là "đồ lấy Tây," "đồ lấy Mỹ." (Chả bù với thời nay, có chút dính dáng về máu huyết hay hôn nhơn với người Mỹ da trắng, kế tới là Anh, Pháp, Ðức, Hà Lan, Gia Nã Ðại, ý, Ðan Mạch, Na Uy, Thuỵ Ðiển, áo, Úc... thì lại là một vinh dự lớn lao!)

5. Tàn ác, thiếu cao thượng và ưa chơi gác: Thật ra, người Việt Nam mình không phải là một chủng tộc có bản tính tàn ác. Trong các vua đời Nhà Lý và Nhà Trần, nhờ ảnh hưởng tốt đẹp của Phật Giáo, nhiều vị đã hết sức thương dân và còn biết đem lòng từ bi, hỉ xả cuả nhà Phật ra để dạy dân biết ăn ở cho có đạo đức, nhân từ. Về mặt tàn ác của người mình, sử sách còn ghi lại cách đối xử tàn bạo cuả binh lính Nhà Nguyễn dưới quyền Tướng Nguyễn Huỳnh Ðức lúc đang chinh phạt Cao Miên (đời Vua Thiệu Trị). Cung cách Cộng sản Việt Nam đối xử với tù binh Mỹ trong tay họ phải nói là tàn ác và tồi tệ chẳng thua chi quân phiệt Nhựt hồi Thế Chiến II nữa. (12) Người Mỹ, tuy bị coi là ham mê tình dục mà ít chú trọng tới danh dự (kiểu Clinton) và chỉ nghĩ đến cá nhân mình, nhưng lại giàu lòng thương hại kẻ yếu kém hơn họ. Chẳng hạn, người Mỹ, lúc đã trở nên giàu có, thường dùng tiền bạc dư thừa để làm việc từ thiện, dù có khi chỉ để mua danh. Và họ ít khi muốn đánh kẻ đã ngã ngựa, cho dù kẻ đó là Ðức hay Nhựt. Việt Nam mình thì khác: Kẻ thắng sẽ đánh, giết người thua cho tới cùng. Các ví dụ trong lịch sử gồm có chuyện Trần Thủ Ðộ giết hại tôn thất nhà Lý, chuyện Vua Gia Long cho đào mả Vua Quang Trung để lấy đầu lâu đái vào và xử tử nữ Tướng Bùi Thị Xuân cuả Tây Sơn một cách tàn nhẫn, chuyện các vua đời Hậu Lê và Nguyễn giết hại công thần... Quân viễn chinh Việt Nam tại Lào và Căm-Bốt luôn luôn chơi gác đồng minh của mình, dù phe taọ là Quốc gia hay Cộng sản. Hiện đại nhứt vẫn là chuyện Cộng Sản Bắc Việt chơi gác Mỹ tại bàn Hội nghị Ba-lê, với lá bài tẫy là tù binh Mỹ trong tay họ. (Có điều trớ trêu là người Mỹ chỉ ngu đoản kỳ, trong khi Cộng sản Bắc Việt lại ngu trường kỳ!)

6.. Phe đảng: Không dân tộc nào lại có tính phe đảng hơn người mình. Phe đảng đây có nghĩa là ngoài mình ra, mình chỉ lo cho vợ con mình, bà con mình hay bè bạn mình là hết, còn đất nước thì cứ kệ mẹ nó, muốn ra sao thì ra. Ðiều này đúng cho cả phe Quốc gia lẫn phe Cộng sản, cho nên đất nước mình mới mau chóng tàn mạt như thế này. (13) John Paul Vann, Cố vấn Trưởng Vùng II Chiến thuật hồi thập niên 1970, đã ngỏ ý xa gần rằng "người Việt Nam là những kẻ yêu thương chan chứa nhứt (thế giới)" (the Vietnamese are the greatest lovers), ý nói người mình chỉ biết yêu thương, lo lắng cho sự an nguy của quyến thuộc, thân bằng mà quên đi vận mệnh chung của đất nước. Ngay cả lúc cần phải lui quân (cỡ Dunkerque), sĩ quan và binh lính ta vẫn đèo bòng vợ con làm cho cuộc triệt thoái thêm phần vướng víu, chậm chạp và dĩ nhiên là nhiều thương vong. Hồi còn Việt Nam Cộng Hoà, cái triết lý một người làm quan, cả họ được nhờ là triết lý phổ biến nhứt và được nhiều người theo nhứt. Ai cũng chê Tổng Thống Diệm là gia đình trị, nhưng nếu chính quyền rơi vào tay một gia đình khác thì cũng thế, có điều là gia đình này có độc tài và tham nhũng hơn gia đình kia hay không mà thôi. Thời quân nhân cầm quyền ở Miền Nam Việt Nam thì chỉ có ai trong đảng ka-ki mới được trao quyền cai trị đất nước. Quân đội thì lại bị một số tướng lãnh coi như là tài sản riêng, để rồi họ cứ nhân danh tập thể Quân đội mà ban phát cấp bậc hay chức vụ cho những ai trung thành với họ. Thời Cộng sản thì khỏi nói rồi, chỉ có "Ðảng ta" là xứng đáng được ăn trên, ngồi trốc, làm giàu và cho con du học (Ðế quốc) Mỹ mà thôi! Thử hỏi một khi đã mở cửa cho dân chủ đa nguyên thì làm sao mà Cộng sản có thể thực thi chính sách phe đảng cho được?

7. Thiển cận: Ai viết sách hay giảng thuyết nơi đâu cũng khen ông cha chúng ta là nhìn xa, trông rộng. Sự thật chỉ đúng một phần nào đó mà thôi như phần chịu nhịn nhục triều cống Trung Hoa sau mỗi đợt chiến thắng quân xâm lược phương Bắc còn phần nhiều là thiển cận. Vì vậy dân tộc ta mới bỏ mất cơ hội canh tân đất nước (thời nhà Nguyễn), cơ hội hoà giải dân tộc và tái thiết đất nước thời hậu chiến (khi Cộng sản thắng năm 1975) và cơ hội lấy lại Quần đảo Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của ta 100 phần trăm (khi Trung Cộng đang bị đánh bại trên mặt trận sáu tỉnh biên giới phía Bắc). Cứ nhìn các công trình kiến trúc nhỏ xíu của các triều đại vua, chúa Việt Nam để lại cho hậu thế thì biết: Không phải tại vua, chúa ta nghèo hay chẳng muốn vắt kiệt sức dân để phục vụ quyền lợi riêng như vua Tàu, vua Miên, vua Xiêm hay vua Lào đâu, nhưng chính là vì cái nhìn cuả người mình không thoáng, không vượt quá luỹ tre xanh đầu làng nên các công trình kiến trúc của mình thiếu vẻ bề thế, bao la và hùng tráng. (14) Cũng chỉ vì tầm nhìn không xa, không rộng nên dân chúng Miền Nam mới liên tục biểu tình đòi hoà bình với bất cứ giá nào, đòi Mỹ cút ngay, cho dù Việt Cộng đang đánh sát sàn sạt bên hông. Còn các tướng, tá trong Quân Ðội Cộng Hoà thì chỉ thích lật đổ Tổng Thống Diệm cho khuất mắt để được dịp tự lên lon cho lẹ! Và cũng chính vì cái tính thiển cận này mà người Việt hải ngoại ít quan tâm đến những cuộc đầu tư có tính cách lâu dài, như đầu tư vào chính trị (đi bầu cho đông để tạo áp lực, ra tranh các chức vụ dân cử...) hay đầu tư vào văn hoá (cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam, làm công tác bất vụ lợi...) mà chỉ thích làm sao hễ sáng bỏ tiền ra là tối phải thu lợi vào ngay, chớ không thể để ngâm vốn lâu được!

8. Ganh ghét và đố kỵ: Tại sao người Việt hải ngoại sau hơn hai thập niên sống lưu vong vẫn chỉ làm được có mỗi một việc (coi không được) là đem nộp cho Cộng Sản Việt Nam hơn một tỷ đô-la mỗi năm? Ðó lại người mình không đoàn kết (trong tình đồng bào cũng như trong sách lược chung), mà cỗi nguồn của tình trạng này vẫn là lòng ganh ghét, đố kỵ nhau từng ly, từng tí. (15) Ðối với người mình, trâu buộc ghét trâu ăn đã đành, nhưng trâu ăn này lại còn ghét cay, ghét đắng trâu ăn kia nữa mới là đáng nói! Một ví dụ điễn hình là vụ Còi hụ Long An thời Ðệ nhị Cộng Hoà ở Miền Nam Việt Nam, tức là vụ phe của Bà Thiệu tranh đua buôn lậu với phe của Bà Khiêm, đôi bên đều sử dụng các lực lượng quân đội hùng hậu, kéo còi hụ hộ tống hàng hoá um sùm trời đất. Người viết bài này trộm nghĩ phe Cộng sản bên nhà cũng chẳng khá hơn phe hải ngoại trong lãnh vực này. Cứ nhìn việc "Ðảng ta" hạ bệ ngay và không tiếc xót "đệ nhất công thần" Võ Nguyên Giáp sau trận Ðiện Biên Phủ hồi 1954, cứ nhìn những cuộc thanh trừng nội bộ liên tiếp trong "Ðảng ta" —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là nạn nhân "đáng thương" nhứt— từ hồi chiếm được Miền Nam Việt Nam đến nay thì đủ biết.

9. Thích làm vua, làm chúa: Cái này thì đã rõ từ thời còn mồ ma thực dân Pháp kia, khi các quan cai trị Pháp nghiên cứu về dân tộc tính của người "An-nam" ta. Một vị Tây mũi lõ —dường như là Toàn Quyền Pierre Pasquier— đã "phán" thẳng thừng: Trong bụng mỗi một người An-nam đều có một ông quan. Câu nói này tuy hơi khắt khe nhưng cũng đã nói lên tính thích làm vua, làm chuá của người mình. Chính vì cái tính này mà người mình đâu có ai chịu phục ai. Bởi thế cho nên, nhìn quanh, nhìn quất trong cộng đồng người gốc á châu-Thái Bình Dương ở hải ngoại, chỉ có nhóm người Việt Nam mình là phải thường xuyên khổ sở vì tranh chấp và kiện tụng về quyền lãnh đạo, từ các trung tâm văn bút cho tới các ban đại diện cộng đồng. Quý vị còn lạ gì khi thấy cảnh bên Mỹ một tiểu bang hay nửa tiểu bang mà có tới hai, ba ban đại diện cộng đồng Việt Nam, trong khi đó xuất hiện hằng trăm hội đoàn, mà hầu hết các hội đoàn này chỉ có chủ tịch đứng tên trong hội đồng quản trị mà thôi. Thậm chí có người đã cả gan một mình đứng làm chủ tịch cả chục hội đoàn, vừa Việt vừa Mỹ. Mà phải như các hội đoàn này có hoạt động gì ích quốc, lợi dân cho cam! Trái lại, nó chỉ hiện diện để người cầm đầu dễ bề lợi dụng danh nghĩa cộng đồng vào những âm mưu làm kinh tế hay chính trị riêng tư của họ.

10. Không công tâm: Không công tâm tức là tư vị, mà chuyện này thì xảy ra như cơm bữa tại Việt Nam dù dưới chế độ nào đi nữa. Con ông, cháu cha (phải được ưu tiên) vẫn là phương châm của mọi thời đại. Vì không công tâm nên mới sinh ra nạn phe đảng và bè phái làm ung thối mọi cấp chính quyền trong quá khứ cũng như hiện tại, bên này hay bên kia vĩ tuyến 17 cũng vậy. Chính nhờ nổi tiếng là có công tâm nên Cụ Trần Văn Hương mới được mời làm đến Thủ Tướng và sau đó là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng điều đáng tiếc cho vận nước là số người như cụ không nhiều hơn số ngón trên một bàn tay đã cụt hết bốn ngón rồi! Bệnh không công tâm còn thể hiện qua cách viết lách, tường thuật, phê phán vụ việc và ghi chép lịch sử nữa. Ðặc biệt về cuộc Chiến Tranh Việt Nam, người Việt Nam, ở một mức độ cao hơn người Mỹ, thường thiếu công bằng khi kể lại các sự kiện xảy ra. Nếu là một cựu quân nhân Nhảy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến hay bộ binh viết về một trận đánh nào đó tại Nam Việt Nam, thành tích của đơn vị gốc cuả tác giả thường được đề cao, trong khi thành tích cuả các đơn vị bạn lại bị kín đáo dìm xuống hay có khi bị lờ đi, không đề cập gì tới cả. (16) Lối tường thuật và viết sử của Cộng sản dĩ nhiên là còn tồi tệ hơn nhiều, nghĩa là không đếm xỉa gì tới sự thực mà hoàn toàn thiên vị nhằm mục đích tuyên truyền và độc tôn phe Cộng sản. Dĩ nhiên, một lý do khác của sự thể này là người cầm bút của mình thường thiếu phương pháp sử học và không hề để ý tới nguyên tắc vô tư trong tường thuật báo chí.

11. Không tôn trọng luật lệ: Chính nhờ tinh thần thượng tôn luật pháp mà Mỹ Quốc, tuy chỉ mới lập quốc có hơn 200 năm, nay đã trở thành một siêu cường giàu mạnh nhứt thế giới. Nhưng Việt Nam ta thì coi như không mấy ai bận tâm đến chuyện phải tôn trọng luật pháp. Ðây là hậu quả tất yếu của một quốc gia phải trải qua cả nghìn năm chinh chiến, hết nội thù đến ngoại xâm, hầu như không có lúc nào được an hưởng thái bình đủ lâu để củng cố hệ thống luật pháp chung cho đất nước. Ðất nước Việt Nam tuy mang tiếng là được trung ương tập quyền từ đời Lý (thế kỷ thứ 11-13) nhưng thiệt sự triều đình chỉ nắm được quyền thu thuế và bắt lính qua trung gian một hệ thống làng xã khá vững chắc. Phép vua thua lệ làng, câu này vừa nói lên tính tự trị từ ngàn xưa cuả hệ thống làng xã Việt Nam - vì triều đình quá bận bịu chinh chiến chống ngoại xâm và nội thù — vừa nói lên sự lỏng lẻo cuả luật pháp quốc gia. Hay nói khác đi, Việt Nam chỉ thiệt sự có luật pháp quốc gia từ đầu thế kỷ 19 với Bộ Luật Gia Long, mặc dù, trên nguyên tắc, đất nước đã có luật pháp chung kể từ thời Lê Thánh Tôn (thế kỷ thứ 15) với Bộ Luật Hồng Ðức. Nói chung, ý thức tôn trọng luật pháp của người mình rất thấp. Một phần là vì khả năng truyền thông yếu kém do tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phần khác do đầu óc sứ quân và óc địa phương, làng xã còn nặng, phần khác nữa do đời sống dân chúng hãy còn quá đơn giản, chưa có những nhu cầu phức tạp của một dân tộc văn minh cao. Khi Cộng Sản cởi đầu, cởi cổ được cả hai miền Nam Bắc thì họ liền trở về với tình trạng phân hoá sứ quân cũ, nghĩa là mỗi tỉnh đều có luật lệ riêng để áp dụng, có khi luật tỉnh (do bí thư tỉnh ủy đảng Cộng Sản hành xử) còn được đặt trên cả luật pháp quốc gia, với dụng ý để cho cán bộ tỉnh dễ bề tham nhũng và có thể tuỳ tiện ăn hối lộ mà không cần phải trình báo cho trung ương. Và rồi tình trạng vô luật pháp chỉ là một hậu quả tất nhiên của tệ nạn tham nhũng và hối lộ lan tràn, bởi vì lúc nào cũng thấy diễn ra cảnh "nén bạc đâm toạc tờ giấy." Ngày nay, những ai từng về Việt Nam du lịch đều nhìn nhận rằng Việt Nam không hề có luật lệ giao thông. Hễ đã ra đường rồi thì mạnh ai nấy chạy, mạnh xe nào nấy đi, chừng nào tai nạn xảy ra thì cứ chửi nhau inh ỏi cả lên, ai to tiếng hơn thì thắng, còn có bồi thường thì cũng chỉ là vờ vịt, qua loa mà thôi, chủ yếu là xuýt xoa xin lỗi.
Cướp công của người khác: Vì không có một hệ tư tưởng hay học thuyết dân tộc cuả riêng mình, người Việt Nam rất dễ dàng tiếp nhận những luồng tư tưởng từ bên ngoài. Việt Nam đã du nhập nào Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo, Cơ-Ðốc Giáo, chủ nghĩa tự do dân chủ Tây phương, chủ nghĩa duy vật Mác-xít Lê-nin-nít, triết học hiện sinh cùng với các trường phái nghệ thuật từ cổ điển và lãng mạn tới ấn tượng và lập thể. Người mình còn ưa lấy các học thuyết khác nhau của Trung Hoa và Ấn Ðộ xào nấu lại rồi cho đó là công trình sáng tạo của mình, gọi các công trình đó là một hình thức Việt Nho hay Việt Học. (17) Các sản phẩm kiến trúc hay âm nhạc cuả Việt Nam thiệt ra đều là những bản sao có thêm thắt cuả lối xây cất hay cách thế ca hát, nhảy múa của Trung Hoa và Chàm (Ấn Ðộ). (18) Các nhà cai trị thực dân Pháp cũng từng ghi nhận rằng dân tộc Việt Nam có tài bắt chước, mà hễ đã bắt chước thì không phải là sáng tạo mà chỉ là lấy của người làm của mình thôi. Một tỷ dụ điển hình khác cuả thói xấu này là tật "cướp công cách mạng" khi Cộng Sản tự vỗ ngực cho rằng chính họ là người duy nhứt đi tiên phong trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhựt. Thiệt sự thì những đảng phái quốc gia khác như Việt Nam Quốc Dân Ðảng hay Ðại Việt, hoặc các giáo phái như Cao Ðài và Hoà Hảo cũng là những thành phần có công chống Pháp, kháng Nhựt vậy. Chỉ có điều là họ không giành được chính quyền vào tay để mà tha hồ kể công với lịch sử như Cộng sản đang làm.

12.Ưa nịnh bợ, tâng bốc: Vì có máu kiêu ngạo thêm tính ưa làm quan (như đã kể trên), người Việt Nam thường chỉ thích được kẻ khác nịnh bợ, tâng bốc. Những lời nói thiệt, nói thẳng kiểu Nguyễn Trường Tộ hay Phan Châu Trinh dễ làm vua quan ta phật ý. Sử chép rằng Vua Khải Ðịnh thích được các quan quỳ lạy, xưng tụng đến nỗi nhà vua đã cho thiết lập cả một triều đình ngay tại Marseilles trong thời gian có Hội Chợ Kinh Tế (Ðấu Xảo) Ðông Dương thuộc Pháp năm 1925. (19) Tổng Thống Diệm cuả Miền Nam Việt Nam chỉ thích được nghe người ta suy tôn Ngô Tổng Thống. Nhưng họ Hồ và Ðảng Cộng Sản Việt Nam thì ở một mức độ cao hơn nhiều. Ðám bồi bút và văn nô cuả Hồ Chí Minh, đứng đầu là Tố Hữu (nhà thơ mà sau làm đến Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Ðổi Bạc) với các phụ tá như Xuân Diệu, Nguyễn Ðình Thi, Huỳnh Minh Siêng... lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, làm văn, làm nhạc, hết mình ca tụng Bác và Ðảng. Và cho dù Bác và Ðảng có thực sự xua đẩy đất nước mình xuống bờ vực thẳm, họ cũng không hề dứt lời say sưa ca ngợi: Bác đến từng nhà thăm các cụ già, cầm tay chúng con, Bác bắt nhịp bài ca kết đoàn. —Tiếng Hát Thành Phố Mang Tên Người.
 

13. Thích ăn hối lộ: Ðây là căn bệnh chung của phần lớn các quan lại và những người mà trong bụng lúc nào cũng có một ông quan. Bệnh phát triển quá mức bình thường một khi niềm tin vào kỷ cương và giềng mối cuả đất nước tan rã. Tại Miền Nam Việt Nam, sau khi chiếm được Dinh Gia Long, phe đảo chánh Tổng Thống Diệm chỉ tìm thấy chiếc giường gỗ và một giá sách trong phòng ngủ của ông. Nhưng sau khi Tổng Thống Thiệu ra đi, người ta tin rằng ông đã mang theo ra nước ngoài nếu không phải là cả tấn vàng thì cũng một số lớn tài sản tích luỹ được ố-kể cả các chương mục ngân hàng tại Thuỵ Sĩ— sau 10 năm cầm quyền. Các tướng lãnh dưới quyền ông từ Trần Thiện Khiêm tới Cao Văn Viên và Ðặng Văn Quang cũng đều được người đời nhắc nhở tới như là những tay tham nhũng lớn của chế độ. Các vị này vẫn thường coi chuyện ăn hối lộ và tham nhũng như là quyền đương nhiên của giới lãnh đạo, nhứt là trong lúc đất nước đang có chiến tranh, bản thân họ thì phải vào sanh ra tử. Tỷ dụ như Tướng Ðỗ Cao Trí, một vị tướng rất tài giỏi (cỡ Patton) nhưng không sạch của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong một phút cao hứng, từng nói với báo chí ngoại quốc rằng ông vừa đánh giặc vừa làm giàu, (ý nói ông có quyền tham nhũng và buôn lậu qua vùng tam biên). Nhưng than ôi! Tham nhũng cỡ đó thì đâu có thấm béo gì nếu so với các quan chức Cộng sản hiện đang toàn quyền cai trị 75 triệu dân Việt Nam (và một số Việt kiều yêu nước ở hải ngoại)! Trên thực tế, tình trạng tham nhũng và hối lộ ở Miền Nam, phát sinh từ chiến tranh chống Cộng, đã gia tăng với một nhịp độ khủng khiếp sau khi Sàigòn rơi vào tay Cộng sản. Và tình trạng này đã lây lan mãnh liệt, làm ung thối luôn cả chế độ Cộng sản Miền Bắc vốn bị kìm hãm trong kỷ luật sắt của một nước độc tài, đảng trị (đang dốc hết mọi tài nguyên vào cuộc chiến tranh xâm lược nước khác) và quá nghèo nàn, không biết lấy gì để tham nhũng cho ra trò. (20) Dân chúng Miền Nam Việt Nam vẫn cho rằng ngày xưa vì chỉ có các ông lớn ăn —mà phần lớn là ăn tiền của Mỹ cho— nên dân còn đỡ đỡ một chút. Nay dưới trào Cộng sản thì mạnh lớn, lớn ăn, mạnh nhỏ, nhỏ ăn (mà lại chỉ ăn vào tiền mồ hôi nước mắt cuả dân chúng chớ làm gì có viện trợ của Liên Sô hay Trung Quốc đổ xuống dồi dào như hồi Mỹ chưa phụ bạc Miền Nam Việt Nam) nên đất nước ta mới xác xơ đến vậy. May mà có Việt kiều hải ngoại thương tình mỗi năm chính thức bôm vào trong nước khoảng 1 tỷ rưỡi đô-la chớ không thì dân nghèo sẽ chết trước hết, rồi từ từ mới đến người giàu và cán bộ, đảng viên khệnh khạng mua vé Air France hạng tối danh dự bỏ nước ra đi sang định cư tại Thuỵ Sĩ! 

14. Tham lam: Mặc dù lòng tham là bản tính chung Trời ban cho loài người không phân biệt chủng tộc, người Việt Nam đặc biệt tham hơn người khác vì đau khổ và thiếu thốn nhiều quá. Lòng tham này biểu hiện trong cách buôn bán lừa đảo, làm hàng giả và chặt đầu lột da, không phân biệt phải trái và không kể chi đến chuyện lưu nhân tình để ngày sau hảo tương kiến. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, người Việt gốc Hoa, tuy cũng tham lam chớ chẳng phải là không, trong buôn bán vẫn tỏ ra thiệt thà và giữ gìn chữ tín hơn là người Việt chính tông của mình. Cộng Sản, tuy tự xưng mình là vì giai cấp vô sản mà chiến đấu, lại đặc biệt bóc lột đám dân vô sản cô thế và xô đẩy con người vào chỗ tham lam vô cùng, vô tận. Cứ đi về Việt Nam du lịch một vòng thì biết liền: Bà con, họ hàng gì mà cho tiền ít thì hờn giận, nói xỏ, nói xiêng; địa phương thanh lịch gì mà qua cầu khỉ cũng phải trả tiền; khách sạn tối tân cỡ nào mà giá lại đắt hơn cả bên Mỹ; "núm ruột ngàn dặm" gì mà hễ đi thăm thú nơi đâu thì cũng bị đồng bào ruột thịt chặt tiền gấp đôi... Ai cũng ngậm ngùi khi thấy cảnh hoàng cung và các lăng tẫm tại cố đô Huế tiêu điều, hoang phế mặc dầu đây là một trong các điểm du lịch hái ra tiền nhiều nhứt nước. Ai có ngờ đâu rằng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cấp cho nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hằng triệu Mỹ kim để trùng tu di tích này, nhưng họ cứ để vậy, một phần vì tiền đó đã bị họ chia chác nhau ăn cả rồi, phần khác vì họ có thâm ý tạo cảnh tang thương đặng gợi lòng xúc cảm của du khách, mà chung quy cũng chỉ là để moi tiền thêm mà thôi!
Không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc: Người Việt Nam tỏ ra rất thích nghi thức và kiểu cách, nhưng lại không chịu tuân thủ một nguyên tắc nhứt định nào làm chuẩn cả. Từ lễ cúng ông bà ngày Tết cho tới lễ cúng thần hoàng hay lễ hỏi, lễ cưới... mỗi miền đều theo một nghi thức riêng, không ai chịu ai là chuẩn mực. Rồi cứ thế tam sao thất bổn, đến đời nay mỗi khi có lễ lạc gì thì mạnh ai nấy làm, mới nhìn thì cũng na ná như nhau, lại gần mới biết là không nơi nào hành lễ giống như nơi nào cả. Theo một bài viết của cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, hồi tháng Ba năm 1975, các đơn vị thuộc Vùng I Chiến Thuật đã phải rút bỏ Huế chỉ vì phải tuân thủ nguyên tắc thi hành trước, khiếu nại sauọ của Quân Ðội, trong khi đó vị tổng tư lệnh là Tổng Thống Thiệu thì lại không tuân giữ nguyên tắc trước sau như một khi ban lệnh: chiều thì lệnh phải giữ Huế, sáng thì lệnh phải bỏ Huế, làm cho lòng quân rối loạn dẫn tới chuyện mất Vùng I rồi mất nước luôn. (21) Cộng Sản cũng vậy, đã có lệnh của trung ương rồi, nhưng các tỉnh ủy vẫn tuỳ tiện ra phản lệnh hoặc ra thêm lệnh khác, nhứt là lúc cần đánh thêm một đợt thuế nữa vào những nhà đầu tư ngoại quốc lớ ngớ tới làm ăn tại Việt Nam. Còn chuyện không tuân thủ giờ giấc thì ai cũng biết là người mình chẳng hề có khái niệm nào đứng đắn về thì giờ, vì thế mới có thứ giờ cao su. Cứ chịu khó đi dự một phiên họp cộng đồng hay đi ăn một đám cưới nào thì quý vị đủ biết. Giờ hành lễ trên giấy tờ là 9 giờ sáng hay 5 giờ chiều thì cứ y như rằng là phải đợi mãi đến 11 giờ trưa hay 7 giờ tối mới nói tới chuyện khai mạc được, rồi rề rà, ê a mãi tới quá ngọ hay tuất gì đó (9 giờ tối) mới thực sự đi vào trọng tâm buổi lễ. Ðiều có vẻ khó hiểu là hầu hết các quan khách Việt Nam này bình thường, khi đi làm sở Mỹ để lãnh lương, thì lại rất hiếm khi thấy có ai dám thử mạo hiểm dỡn mặt supervisor đi làm trễ giờ!

15. Không tuân giữ các cam kết: Thất hứa hay không tuân giữ các cam kết cũng là một trong các thói xấu mà người Việt mình mắc phải. Các chính trị gia thời chế độ Cộng Hoà ở Miền Nam ưa thất hứa vì tình trạng bầu bán lúc đó, tuy có dân chủ nhưng chưa dân chủ đúng mức, cho nên cử tri khó có dịp để trừng phạt họ bằng lá phiếu. Chính quyền Cộng sản bây giờ tại Việt Nam thì hoàn toàn không hề bận tâm đến chuyện phải giũ lời hứa với ai, vì có cử tri nào có thực quyền hạ bệ họ đâu mà họ phải ngán? Chuyện nuốt lời hứa của Cộng Sản đã nổi bật ngay sau khi họ "giải phóng" được Miền Nam và đưa hằng trăm ngàn quân nhân, viên chức, thành viên các đảng phái đối nghịch với họ đi "học tập cải tạo" từ 1 tháng tới 10 ngày. Các con số 1 tháng hay 10 ngày này sau cùng đã biến thành 5 năm, 10 năm, 15 năm hay lâu hơn nữa, bởi vì toàn thể Miền Nam Việt Nam đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trắng trợn lường gạt ngay trong "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" (22) của cuộc "hoà hợp, hoà giải dân tộc" mà họ đã không ngừng cổ võ và cam kết để phía bên kia nhẹ dạ nghe theo mà buông súng đầu hàng cho lẹ.

Trên đây mới chỉ là 18 trong vô số những thói xấu mà người Việt ở trong cũng như ngoài nước hiện đang mắc phải. Có thể một số quý vị sẽ cảm thấy bàng hoàng vì không tin là cái dân tộc của chính mình mà lại mang nhiều khuyết điểm trong đạo đức làm người đến như vậy. Ðể quý vị có thêm cơ sở, người viết xin đưa ra một số nguyên do đã đưa đẩy con người Việt Nam, bằng máu và thịt, ở trong cũng như ngoài nước, đến cuộc khủng hoảng đạo đức và xã hội như hiện nay: Vì nội chiến và ngoại xâm liên miên trong suốt chiều dài của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn phải đặt mình trong tình trạng nghi ngờ, giận dữ và thù hằn. Cái đạo đức của một dân tộc hiếu hoà như bất cứ dân tộc nhỏ bé nào đó trên một hải đảo Thái Bình Dương nào đó thiệt khó có cơ hội phát triển trong dân tộc mình. Ðiều này cũng tương tự như hoàn cảnh cuả một đứa bé phải sống trong bối cảnh một gia đình đầy những sự lạm dụng (abuse) và bạo lực (violence). Do lâm trận hoài trong chiến tranh, người Việt Nam có thể là những chiến sĩ tài giỏi nhứt thế giới, nhưng đồng thời cũng có thể là những con người ít thuần tánh nhứt và dữ dằn nhứt. Cứ xem cung cách quân ta hành xử với người Chàm trước đây hay người Miên sau này (mà sử sách còn ghi lại) thì đủ biết. Ðiều này cũng có thể giải thích phần nào sự tàn ác mà Cộng sản vẫn thường dành cho các tù binh trong tay họ, cho dẫu đó là người Miền Nam (đồng chủng tộc với họ) hay người Mỹ (dị chủng, mũi lỏ, mắt xanh).

a/. Chiến tranh triền miên và tiêu hao, cộng thêm với những năm tháng bị xích xiềng nô lệ vừa làm cho người Việt Nam bị phân hoá (dân Bắc kỳ, dân Trung kỳ, dân Nam kỳ; Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo, Bình Ðịnh so đo, Thừa Thiên đớp hết...) vừa làm cho quyền lực của chính quyền trung ương khó tới được các địa phương và tạo ra tình trạng phép vua thua lệ làng như đã nói, một tình trạng thiệt chẳng hay ho gì nếu ta xét về mặt quyền lợi quốc gia, vì nó đẻ ra tệ nạn sứ quân (thời tiền Ðinh) và tỉnh uỷ (thời Cộng Sản). Ðiều này cũng giải thích tại sao dân tộc Việt Nam là một trong các dân tộc ít được chính quyền (do họ bầu lên hoặc không) chăm lo, phục vụ nhứt trong lịch sử nhân loại. Mối quan hệ dễ thấy nhứt giữa nhà nước và nhân dân ở Việt Nam là bên này chỉ chăm chú bắt bên kia phải đóng thuế và đi lính cho mình, chớ bên này chẳng hề phải lo lắng, phục vụ cho bên kia như quan hệ giữa chính quyền và dân chúng tại các nước khác trên thế giới mà người Việt hải ngoại đã may mắn có dịp nhìn thấy và học hỏi.

b/. Chiến tranh và "đổi đời" liên tiếp cũng tạo nên trong tâm lý người Việt Nam những điều thái quá không hay khác như không cha không chúa, hoài nghi, lo lắng, tích luỹ, dễ bạo động, không khoan nhượng và tha thứ, nhẫn tâm, chai đá, sống cuồng sống vội, vá víu, cục bộ, tuỳ tiện, bội bạc, tham lam, hỗn quân hỗn quan, vô luật pháp, vô đạo đức... Ðọc lại lịch sử đất nước, các vua, chuá ta một khi đã chiến thắng kẻ khác thường không mấy khi hành xử cho cao thượng mà chỉ lo trả thù, đôi khi khá hèn hạ. Họ cứ làm như là không hề biết tới cái đạo lý của các hiệp sĩ từ Ðông sang Tây là ôkhông đánh kẻ ngã ngựa. Ðiều này giải thích tại sao Cộng Sản Việt Nam đã công khai hành hạ và ngấm ngầm giết hại hằng trăm ngàn tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hoà qua chính sách giả nhân giả nghĩa "học tập cải tạo" mà họ luôn mồm huênh hoang là "khoan hồng nhân đạo" (nhứt thế giới!) Quý vị hẳn cũng thừa biết, về phiá dân tộc Mỹ, với chỉ có 200 năm văn hiến, kẻ thắng (phe Miền Bắc) đã đối xử ra sao với người bại (phe Miền Nam) sau cuộc Nội Chiến 1861-1865.

c/.  Xét riêng về Miền Nam Việt Nam, nền đạo lý dân tộc cũng đã suy sụp theo thời gian và tuỳ vận nước nổi trôi. Thời Ðệ Nhứt Cộng Hoà, chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tuy bị người đời (và nhứt là người Mỹ) gán cho là gia đình trị và đàn áp tôn giáo, vẫn có cái thanh bình, an lạc và kỷ cương của nó mà suốt quãng đời còn lại sau này dân chúng Miền Nam Việt Nam không còn tìm thấy đâu nữa. Thời Ðảo Chánh và Tướng Lãnh cầm quyền, đạo đức bắt đầu đi xuống và hỗn loạn đã thấy ló mầm với hơn nưả triệu binh lính Mỹ tràn vào các thành thị và thôn làng Việt Nam, (cho dẫu với sứ mạng cứu viện đồng minh). Thời Ðệ Nhị Cộng Hoà, khi mãnh lực cuả đồng đô-la Mỹ bắt đầu lấn áp nền luân lý khắc kỷ á Ðông —vẫn còn đâu đó ở Nam Việt Nam sau cơn hỗn quân, hỗn quan— các tệ nạn như tham tài bội nghĩa, giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ, vật giá leo thang, bợ đít quan thầy, đĩ điếm, ăn cắp (đồ Mỹ trước, đồ bạn sau rồi tới đồ nhà), ăn chơi đua đòi, sống thác loạn... bắt đầu hoành hành, gây đổ vỡ cho gia đình và làm rạn nứt giềng mối quốc gia. Với cường độ tham nhũng gia tăng theo đà chiến tranh tàn khốc cộng với nạn khủng hoảng kinh tế triền miên vì tiền viện trợ Mỹ, khi trồi, khi sụt (thời Tổng Ngọc, thời Tiến sĩ Hảo, thời thuế trị giá gia tăng, thời thuế kiệm ước...), luật pháp quốc gia và đạo đức dân tộc coi như tụt giốc kinh hoàng. Nhưng cũng chưa đến nỗi, vì vẫn còn có những gương sáng xa xa và lẻ loi như một Thủ Tướng Trần Văn Hương liêm khiết, một nhà văn hoá Mai Thọ Truyền tâm huyết cộng với nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng là bốn tướng sạch (và giỏi nữa) trong Quân Ðội. Cho đến đời Cộng Sản thống trị thì vũ trụ mới thiệt sự sụp đổ hoàn toàn trên đầu dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Ðể giải thích cho sự băng hoại và tan rã hoàn toàn cuả xã hội Việt Nam hiện nay dưới ách thống trị mê muội và điên cuồng của Cộng sản, chỉ cần xét tới các nguyên do sau:

Người bình dân Việt Nam, vốn không phải là những triết gia có chiều sâu và những tín đồ có đức tin vững vàng, dễ có khuynh hướng tin rằng Ông Trời không có thiệt hoặc không có mắt, vì làm lành như Việt Nam Cộng Hoà lại bị Thế Giới Tự Do và người bạn Ðồng minh Mỹ rủa sả và bỏ rơi, trong khi làm ác như Cộng Sản vẫn không hề bị trừng phạt mà lại còn được vinh thân phì da, thăng quan tiến chức, giàu có bốn biển, năm thê bảy thiếp, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng, tiền rừng bạc biển, ăn trên ngồi trốc, miệng hét ra lửa, tay chân nắm quyền, Việt kiều [vừa yêu nước vừa] sợ sệt, tiền gởi Thụy Sĩ, con học Huê Kỳ... Hễ Thượng Ðế (Ông Trời) đã chết thì con người được phép làm mọi sự mà không sợ bị ai xét đoán, trừng phạt. (23) Người Việt Nam ngày nay được tự do làm mọi điều thất đức và đoản hậu vì, qua cuộc đổi đời vừa qua, lúc người trung mắc nạn chẳng hề có tiên xuống phò gì cả. (24) Hơn nữa, chủ trương cuả Cộng Sản là vô thần và bách hại tôn giáo, nhưng, cho tới nay, chưa có vị thần thánh nào (mà các tôn giáo vẫn cho là linh thiêng lắm) đủ quyền năng để ra tay trừng phạt (bẻ cổ...) họ cho dân chúng mở mắt ra. Sự thực thì chỉ có tôn giáo mới có thể cung ứng một thứ luật pháp tối thượng và vĩnh cửu để chăn giữ người đời làm lành, lánh dữ, cũng như chỉ có sự hiện hữu cuả một Ðấng Chí Tôn mới củng cố được niềm tin cuả nhân loại về tội ác và hình phạt và về ngày phán xét cuối cùng. (25) Cứ xem cái gương của nước Mỹ: May mà tôn giáo (mà đại diện là các nhà thờ) bên này vẫn còn mạnh chớ nếu không thì luân thường đạo lý của dân Mỹ ngày nay đã đi đong rồi (mặc dù hiện nay tiền bạc và tình dục đang ở thế thượng phong, trên chưn đạo đức).
Tâm lý tuyệt vọng đã xô đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ ngày càng xa rời đạo lý và tiến gần đến tội ác. Thông thường, nếu một người có chút hy vọng vào cuộc sống thì người đó, dẫu sao, vẫn e dè hay miễn cưỡng khi phải phạm tội, vì họ vẫn còn hy vọng vào sự thưởng phạt trong đời. Ngược lại, người tuyệt vọng có mọi lý do để biện minh cho những hành động vô luân, ác đức của mình, bởi vì, theo họ, trách nhiệm về mọi tội ác thuộc về kẻ khác, nhứt là những kẻ đã làm cho đời hợ trở nên tuyệt vọng, mà trong trường hợp này là những lãnh tụ Cộng sản bất tài và vô đạo đức đang thống trị đất nước. Phần lớn dân chúng Việt Nam hiện nay đều mang tâm lý tuyệt vọng, không hề tin tưởng gì vào tương lai đất nước hay vào những mỹ từ như tổ quốc, dân tộc, danh dự, trách nhiệm... mà mạnh ai nấy tìm cách đưa gia đình, con cái mau mau chạy ra nước ngoài (nhứt là sang Mỹ, dĩ nhiên rồi!) qua ngả chữa bệnh, du học, hay theo các diện hôn phu, hôn thê, hôn phối... Và phần lớn số người còn ở lại Việt Nam đều là những kẻ, hoặc không có phương tiện hay cơ hội nào để bỏ nước ra đi, hoặc là vì họ đang có thừa thế lực và tiền bạc để có thể lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của người khác mà củng cố quyền hành và làm giàu thêm.

Nền giáo dục cuả Cộng Sản Việt Nam coi như sụp đổ hoàn toàn vì tiền bạc cũng không để xây dựng trường, lớp và nâng đỡ học sinh nghèo (vốn chiếm đại đa số trong tình trạng kinh tế suy sụp hiện nay) mà tình nghĩa thầy trò cũng mất rồi. Thiệt tình mà nói, hiện nay một số các tổ chức tư nhân từ hải ngoại đang phải về Việt Nam lo xây dựng trường, lớp cho con em đi học, bởi vì chính quyền Cộng sản trong nước, có lẽ vì tham nhũng nhiều nên mập quá, tối ngày chỉ biết nằm mà ăn thôi, chớ không sao đứng dậy nổi mà lo cho dân nghèo (theo đúng đường lối mà Ðảng đã huênh hoang từ năm 1932), cho dù dân nghèo đó lại chính là các em nhi đồng cục cưng của "Bác Hồ kính yêu" thuở nào. Trong khi đó, một số không nhỏ các giáo viên trong nước, nhân danh nghèo đói, lại đang triển khai lề thói bắt học trò của mình phải đóng tiền để học riêng tại nhà mình (viện cớ phải kèm cặp thêm cho mau giỏi), nếu trò nào, nghèo quá, không đến học nổi thì thường bị trù dập. Vả lại, các trường học Cộng Sản không hề dạy cho trẻ em về đức dục, tức là luân lý (như kiểu "luân lý giáo khoa thư" mà các cụ lưu vong bên này vẫn ngày đêm nhớ thương, tiếc nuối) mà chỉ dạy về chính trị, về lòng hận thù (giai cấp) và về lý thuyết cộng sản, tức là một hình thức công dân giáo dục (civics) nào đó. Ngay sau "giải phóng," một giáo viên Miền Bắc thuộc loại con ông cháu cha vào dạy học ở các trường Miền Nam Việt Nam đã phải thốt lên: Ôi! Sao mà học trò trong Nam này lại lễ phép và học giỏi đến thế! Chả bù với học sinh Miền Bắc (xã hội chủ nghĩa), vừa vô lễ lại vừa dốt như bò! (26)

d/.  Chủ nghĩa vật chất, mãnh lực kim tiền và nếp sống thụ hưởng kiểu Mỹ (mà Cộng Sản đã hoan hỉ rước vào như một cứu tinh cho nền kinh tế thối rửa của họ) đang hoành hành dữ dội tại Việt Nam nhờ có những đợt thăm viếng (điạ đạo Củ Chi) của du khách ngoại quốc cùng với các chuyến về thăm quê hương liên tiếp và gởi tiền về Việt Nam ồ ạt của Việt kiều hải ngoại (mà số dách là Việt kiều từ Mỹ, kế đến theo thứ tự là Ca-na-đa, Anh, Pháp, Bỉ, Hoà Lan, Úc, ý, Ðức (bắt đầu hơi kẹo), Nhựt Bản (cũng hơi kẹo), Nam Hàn (kẹo hơn chút nữa), rồi mới tới các lân bang, các hải đảo Thái Bình Dương và Phi Châu). (27) Từ chỗ tranh sống, những thành phần giàu có không mấy hợp pháp nhờ thời thế hỗn mang hiện nay (như thành phần đảng viên, cán bộ cộng sản, dân đầu cơ tích trữ, mánh mung...) lại đang tranh sướng, tức là làm sao cho cuộc sống của cá nhân mình, gia đình mình và phe đảng của mình ngày một tràn đầy khoái lạc hơn, bất kể quốc gia hưng vong. Trong khi nội lực (đạo đức làm người) thì không có, mà ngoại chưởng (đô-la và nếp sống hưởng thụ) thì lại quá mạnh, hỏi làm sao dân tộc Việt Nam chống nổi để khỏi bị trầm luân, băng hoại và từ từ tiến đến chỗ diệt vong?

e/.  Sống gian lận, lừa đảo lâu thành quen, và thói xấu này dần dần đi vào cõi vô thức của dân tộc, hay nói cách khác là nhập tâm, tức là hội nhập vào tâm tình dân tộc. Tội nghiệp cho dân Việt Nam thuộc thế hệ hiện nay ở chỗ là họ không hề biết là mình đang ngày càng xa rời cỗi nguồn đạo đức mà mới đời ông, đời cha của họ vẫn còn có đó. Hễ vào làm việc nơi đâu thì phải lo ăn cắp thì giờ, nguyên vật liệu và cả tiền bạc (khi có cơ hội thụt két) để được no đủ, vì nhà nước hay xí nghiệp chỉ có thể cung cấp cho họ đồng lương chết đói. Là dân buôn bán, cho dù là bán thuốc Tây —trên nguyên tắc là để cứu nhân độ thế— nhưng người ta vẫn phải áp dụng mọi thủ đoạn lường gạt khách hàng mới mong giàu có. Câu chuyện ngụ ngôn về đạo đức nhan đề Cái Cân Thuỷ Ngân mà ngày xưa vẫn thấy đem giảng dạy tại các học đường để cảnh giác con người phải làm ăn và sống cho lương thiện thì ngày nay không hề được nhắc nhở đến. Ngày xưa thì chỉ có Hoa kiều Chợ Lớn chuyên làm đồ giả mạo để tranh thương, ngày nay người Việt mình dường như đã trở thành sư phụ trong những ngón nghề làm đồ giả để lường gạt đồng bào mình. (Chớ đem bán ra nước ngoài, ai mà thèm mua?)
Trong nước, vì có nạn Cộng sản, mới đành phải ra nông nỗi. Nhưng tại sao bản chất của người Việt định cư tại các nước văn minh ở hải ngoại lại cũng vẫn không khá hơn "khúc ruột quê nhà"của mình về mặt đạo đức? Xin thưa:

Một học giả người Pháp mà người viết bài này không nhớ rõ tên, khi viết về dân tộc Việt Nam, có ngỏ ý khen rằng người Việt Nam có biệt tài hấp thụ và đồng hoá những cái hay, cái đẹp của các nền văn minh thế giới do tình cờ lịch sử được mang đến Việt Nam. Thiệt ra thì ông đã quá khen. Người mình quả có tài đó, nhưng lại chỉ hấp thụ những cái dở, cái xấu của nước người để làm thành sản phẩm của mình, vì cái dở, cái xấu lúc nào cũng dễ nuốt hơn là cái hay, cái đẹp vốn đòi hỏi nhiều hy sinh, khắc kỷ mà con người nói chung khó có thể có được. (28) Ngoại trừ thế hệ trẻ của người Việt hải ngoại được sinh ra, lớn lên và được giáo dục y hệt như người bản xứ, các thế hệ phụ huynh đi trước dễ có khuynh hướng hấp thụ những cái xấu của nước người, mà trước hết là thói hưởng thụ. Khi cái chủ trương hưởng thụ nơi người Việt từng bỏ nước ra đi vì lý tưởng Tự do mà gia tăng thì phải biết rằng họ đang ngày càng xa rời lý tưởng Tự do và cội nguồn đạo đức cuả dân tộc, vì họ không còn tâm trí và thì giờ đâu mà tranh đấu cho Tự do nữa! Rồi từ đó sinh ra bệnh trục lợi (hay nhân danh một lý tưởng nào đó đặng lạc quyên mà làm giàu cho mình), tranh giành, lường gạt và khoe khoang thành tích là những tai họa đang liên tục giáng vào tình đoàn kết trong các cộng đồng người Việt hải ngoại..

Mang nặng nhiều mặc cảm cuả kẻ chiến bại khi đặt chân đến xứ người để tiếp tục cuộc sống lưu vong, những người Việt Nam từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hoà thuở xưa, nhứt là những người có ít nhiều trách nhiệm trong Chiến Tranh Việt Nam, dễ có khuynh hướng chạy tội bằng cách đổ lỗi cho nhau, rõ nét nhất là qua hằng loạt hồi ký do các cựu tướng lãnh viết về cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm, về cuộc chiến đấu chống Cộng không thành sau đó, về vai trò và trách nhiệm của họ, vân vân và vân vân. Rất ít người có can đảm và đủ khẳng khái tự nhìn nhận là "tôi làm tôi mất nước," (29) trong khi đó một số nhà lãnh đạo trước đây của Miền Nam Việt Nam lại còn mơ hồ nghĩ tới chuyện Cộng sản có thể triệu vời họ về cho một giải pháp hậu hoà hợp hoà giải dân tộc nào đó! Những vị này thường lợi dụng những cuộc họp mặt với bạn bè và thuộc hạ xưa để nay thả ra một quả bóng, mai gióng lên một tiếng chuông thăm dò đặng chào mời sự ủng hộ của đồng hương, nhưng thường thì chỉ nhận được những lời phản đối, chỉ trích, châm biếm chua cay, có khi còn có tính cách xúc phạm nữa. (30) Ngược lại, một số không nhỏ khác lại trở nên tiêu cực vì không còn được hưởng những đặc quyền, đặc lợi, lên voi xuống chó như ngày xưa. Có khi, vì quá tiêu cực, họ đâm ra phân biệt kẻ chạy trước với người chạy sau, kẻ ở tù Cộng sản với người bỏ nhiệm sở chạy ra nước ngoài sớm. Ðó cũng chính là mầm mống gây chia rẽ, bất an âm ỉ khôn nguôi trong cộng đồng nguòi Việt tỵ nạn ở hải ngoại hiện nay.

Nhờ được hưởng các quyền tự do rộng rãi nơi những đất nước thiệt sự dân chủ, nhiều người Việt lưu vong đâm ra quá trớn trong những lời chỉ trích và luận tội những người không cùng ý kiến với mình mà, oái oăm thay, phần lớn lại là các chiến hữu cũ của mình. Thông qua tự do báo chí và nhờ vào chi phí in ấn khá rẻ tại hải ngoại, có tới hằng ngàn tờ báo Việt ngữ đang lưu hành trên khắp thế giới tự do. ( đây không nói tới sách vở với hàng ngàn hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, khảo luận, diễn từ... mà phần nhiều là được viết tuỳ hứng chớ không dựa theo một phương pháp hẳn hoi.) Ðiều đáng buồn là chỉ có một số rất ít trong các tờ báo này làm đúng thiên chức thông tin, nghị luận hay văn hoá, còn phần nhiều chỉ chuyên chửi bới nhau, có khi còn lôi cả tông chi, họ hàng đối thủ ra mà chửi. (31) Bởi vì, như người ta thường nói, xem văn, biết người, chúng ta chỉ cần xem cung cách người Việt Nam mình (dĩ nhiên là người ở hải ngoại, chớ trong nước hiện nay thì làm gì có tự do ngôn luận mà đòi cầm bút) viết lách ra làm sao thì cũng có thể thấy được không những là trình độ học vấn mà còn cả đạo đức làm người của họ nữa. Kiến thức và đạo đức vẫn là hai điều kiện không thể thiếu của một người cầm bút trong ý nghĩa là làm văn hoá, dù ở bất cứ nơi đâu và trong bất cứ thời đại nào.

f/.  Một số đáng kể những người Việt lưu vong, do bất đắc dĩ phải tiếp xúc lâu dài với môi trường mới đầy những luận điệu tuyên truyền xảo trá tại quê nhà trước khi ra hải ngoại, đã bị nhiễm những tánh xấu của Cộng sản hồi nào không hay. Một trong các tánh đó là óc tự hào dân tộc thái quá đến độ cuồng tín, bất chấp sự thực là khả năng của mình không có là bao nhiêu. Chẳng hạn, khi có ai nêu lên một sự thực (đau lòng) rằng trong cuộc chiến tranh vừa qua, Miền Nam Việt Nam không có tài nguyên nào đáng kể để đánh Cộng sản mà chỉ dựa vào viện trợ Mỹ cấp cho mình do nhu cầu Chiến Tranh Việt Nam mà Mỹ là kẻ chủ chốt thì lập tức thế nào cũng có một vài người giận dữ phản đối, cho nhận xét đó là không ôyêu nướcọ và sai sự thực. Họ lý luận rằng ta có nhân sự, và nhân sự đó chính là vốn quý của ta. Nghe như âm hưởng đâu đây của một bài học chính trị căn bản mà Cộng sản đã đem ra dạy cho dân chúng Miền Nam Việt Nam sau ngày giải phóng: Ðất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng... (32) Họ quên rằng nếu ta thiệt sự có khả năng (vật chất) thì cho dù Mỹ có bỏ rơi ta bằng cách cúp viện trợ thì cũng mặc xác họ, mắc mớ gì mà ta phải thua chạy vất vả đến như vậy? Chỉ vì quá tự hào với tiềm năng vu của mình đến độ kiêu căng chưa từng thấy mà Cộng sản đã xô đẩy dân tộc Việt Nam đến chỗ nghèo hèn cùng cực như hiện nay.
g/.  Người ở hải ngoại, nhứt là những người đã lớn tuổi, dẫu sao khi rời bỏ đất nước ra đi cũng đã mang theo một số tánh xấu căn bản cuả dân tộc, để rồi khi sang đây cứ thế mà phát huy: chia rẻ, khích bác lẫn nhau, thích làm lãnh tụ, không lo viết lách cho ra hồn mà chỉ lo chửi bới, loè bịp bạn bè nơi xứ lạ (bằng nhà lầu, xe hơi trả góp), loè bịp người trong nước đang nghèo túng (bằng những chuyến áo gấm về làng, vung tiền qua cửa sổ)... Một số, nhờ vào lệnh cấm vận kinh tế trước đây của Mỹ chống Cộng sản Việt Nam, đã dùng những chuyến du lịch về thăm quê nhà của mình để buôn bán hay chuyển tiền lậu, không ít thì nhiều cũng làm giàu cho cán bộ, viên chức Cộng sản trong nước. Có người, vì quá tha thiết với chuyện về Việt Nam, đã không dám tỏ thái độ nào với những vi phạm nhân quyền hay bách hại tôn giáo của Cộng sản trong nước, lơ là trong các sinh hoạt chống Cộng ở hải ngoại, miễn sao khỏi bị Cộng sản nằm vùng ghi sổ đen rồi trả thù khi họ lơn tơn xách gói về Việt Nam mà thôi. Lại có kẻ ráng sức bình sanh làm ra các sản phẩm văn nghệ sao cho thiệt hợp gu với Cộng sản bên nhà, với hy vọng nới rộng thị trường làm ăn, buôn bán với Cộng sản sau này, cho dù, để làm chuyện đó, họ đã phải nhẫn tâm phản bội tình chiến hữu năm xưa và chà đạp lên sự thực, trong đó có sự thực về cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua. (33)
Sự hoành hành của các thói xấu kinh niên này tưởng cũng đủ để giải thích tại sao Việt Nam ta ngày nay đang rơi vào hố sâu của sự nghèo nàn lạc hậu, chia rẻ và nghi kỵ lẫn nhau đời đời không nhạt phai, cho dù chúng ta có trốn chạy đến góc biển, chân trời nào đi nữa. Và nếu đà nầy cứ thế tiếp diễn, dân tộc Việt Nam sẽ tự mình đi vào chỗ diệt vong bên cạnh ông láng giềng Trung Hoa khổng lồ đang ngày càng bành trướng thế lực sang các lân bang nhỏ bé hơn như Hàn Quốc, Việt Nam, Lào, Căm-Bốt, Thái Lan, Miến Ðiện và Nê-pan. Khi cảnh giác mọi người về những thói hư, tật xấu này của người Việt Nam, người viết không hề có ý định bôi lọ dân tộc mình —như những thiên tài chụp mũ trong cộng đồng mình vẫn nghĩ— mà chỉ muốn gióng lên một tiếng chuông cảnh tĩnh cho tất cả những ai đang ngủ mê trong giấc mộng vàng son rằng người Việt chúng ta quá tài hoa, quá đức độ, để rồi lại uất ức, tức tưởi sao vận nước —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam trước đây thường ca cẩm là "đã đến rồi" —(34) vẫn cứ còn lao đao ghê gớm, dân tộc mình vẫn còn trầm luân, khổ ải như vậy. Sự thật thì người mình cũng chẳng có tài cán là bao so với các dân tộc bạn như Trung Hoa, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, và nhứt là Nhựt Bản. Vài ba cái thành công lẻ tẻ trên đường học vấn hay trong kinh doanh nhỏ mà mình luôn hãnh diện kia không nói lên được cái gì đáng chú ý. (35) Ðó là chưa nói tới sự kiện là hầu hết những kẻ thành công này —hiện không còn mang quốc tịch Việt Nam nữa cho dẫu khi về thăm quê hương họ có thiệt sự được Cộng sản ban cho quy chế song tịch (Việt-Mỹ đề huề)— sau cùng cũng chỉ dốc tâm phục vụ cho xứ sở mới của họ chớ không mấy khi cho đất nước Việt Nam. Chỉ có những thói hư, tật xấu có tính cách tổ tông truyền đó là còn ở mãi trong ta như là một di sản dân tộc không thể tách rời, và chính vì thế mà nó đã tác hại tới tương lai dân tộc Việt Nam rất nhiều. (36) Dám xin các bậc thức giả và quý vị có chút công tâm hãy giúp soi sáng đồng hương về những gì tốt đẹp mình đáng nên hãnh diện và những gì chẳng hay ho mình nên biết tự lấy làm xấu hổ mà sớm từ bỏ. Thiết tưởng, bên cạnh lòng tự hào về dân tộc, chúng ta cần phải nhìn ra những nhược điểm, những thói hư, tật xấu của mình. Thái độ vô tư, khách quan trong việc phê phán, đánh giá là cần thiết để nhận diện lại mình ngỏ hầu đưa đến một phản tỉnh chân thành. Bởi vì có nhìn rõ được mình và có tự biết mình chúng ta mới tự sửa đổi được để tiến lên Chân, Thiện, Mỹ. Trên thực tế, phải tu thân trước đã rồi mới mong tính tới chuyện tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. (37) Ðức Khổng Tử có nói: Người quân tử hễ biết điều lỗi thì sửa đổi nhanh như gió.. Thiệt là xót xa khi toàn bộ vận mệnh đất nước Việt Nam ngày nay lại tuỳ thuộc vào ý thức về câu nói trên, tức là vào thành tâm, thiện chí sửa đổi bước đường sai trái mà, vì bệnh ngoan cố kéo dài từ hơn nửa thế kỷ qua, những người Cộng sản đã dùng bạo lực cưỡng ép dân tộc phải đi theo. Người viết bài này ước mong rằng người Việt chúng ta khắp nơi sẽ sớm tìm dịp thuận tiện để nhìn lại mình trong gương, sửa đổi bớt những điều sai trái kia, bớt tự hào xằng bậy đi, bớt kiêu căng đi, bớt nghi kỵ đi, bớt chấp nhứt đi, bớt chửi bới nhau đi, để rồi cùng nhau bắt tay tìm một lối ra hợp lý cho đất nước, ngỏ hầu đem lại hạnh phúc, ấm no cho hằng triệu đồng bào giờ đây còn "điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm." (38) Chỉ có lúc đó Việt Nam mình mới có hy vọng tiến lên theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại trong thiên niên kỷ tới.

Ghi chú:
Nếu quả dân tộc Việt Nam ta có đầy đủ những đức tính quí báu hơn hẳn người gấp bội như yêu nước, yêu người, anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang, cần cù chịu khó vượt bực, thông minh, tài trí, lanh lợi, kiên trì... thì sao lịch sử lại lắm tang thương và đến nay tình trạng sa đọa, phân hoá hầu như không thể nào chữa trị được? Và đối chiếu với thế giới, thực trạng đất nước càng bi đát, thua sút hẳn một đôi dân tộc mà lịch sử không lắm oai hùng như Việt Nam. Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Tinh Thần Việt Nam, Mekong-Tỵnạn, 1991. 

(1) Nguyễn Gia Kiểng, một thành viên cuả Nhóm Thông Luận tại Paris, Pháp Quốc, trong một bài báo nhan đề Phải chăng nhân vật Nguyễn Huệ qua lịch sử đã được tôn vinh quá lố? đăng trên Ngày Nay Minnesota ngày 31 tháng Mười, 1997, đã đặt lại vấn đề công lao và thành tích của Vua Quang Trung trong lịch sử, tỏ dấu hoài nghi rằng sử sách Việt Nam, nhứt là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, đã thổi phồng quá lố uy danh và đảm lược cuả Quang Trung Ðại Ðế, một trong những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhứt và được tôn thờ nhứt qua bao triều đại và chế độ chính trị tại Việt Nam. 

(2) Cựu Thiếu Tướng Ðỗ Mậu cuả Việt Nam Cộng Hoà, người giúp phe quân nhân lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963, viết quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, một hồi ký cho hay tại sao ông phản bội vị đỡ đầu tinh thần trước đây của mình là Tổng Thống Diệm để đứng về phe đảo chánh do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Phe đảo chánh đã giết vị tổng thống và bào đệ của ông rồi lên cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam. Các Tướng Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi và, gần đây nhứt, Tôn Thất Ðính cũng viết hồi ký về cuộc đời binh nghiệp và những đóng góp của mình vào đất nước mà các vị đó đã giúp cho bại trận. 

(3) Nhiều người, sau khi từ Việt Nam trở về, đã giúp quảng cáo cho du lịch Việt Nam. Có người đã viết cả những bài báo dài khen ngợi những đổi mới tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, với ngụ ý rằng Việt kiều hải ngoại nên thử về thăm đất nước một phen. Tất cả những việc làm này đều nhân danh tổ quốc và dân tộc. 

(4) Xin xem Việt Nam Văn Hoá Sử Cương của Ðào Duy Anh và Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. 

(5) Ðối với người Mỹ, các công trình sau khi tốt nghiệp đại học thiệt đáng kể, vì họ không dừng lại ở mảnh bằng kiếm được mà đánh giá cao những phát minh, nghiên cứu hoặc sáng tác cuả người mang bằng cấp đó. Sinh viên các nước khác đến du học tại xứ này lấy được bằng cấp xong thường về xứ làm quan to, và coi như thoả mãn với thành tựu khoa bảng của mình. 

(6) Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong một bài giảng nhan đề Thập Ðại Bịnh đăng trên Tập san Dấn Thân, tháng 5 & 6, 1999, gọi đó là bệnh phô trương chiến thắng. Thập Ðại Bịnh là 10 thói hư tật xấu của người Việt Nam mà theo tác giả thì nay đã biến thành những căn bệnh hầu như hết thuốc chữa.

(7) Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đó là bệnh cá nhân chủ nghĩa. (bđd). 

(8) Theo Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Cộng Sản Việt Nam chủ trương toàn dân phải kế thừa có phát triển nền văn minh rực rỡ của Việt Nam mà tiền nhân đã để lại. Phê phán chủ trương này, tác giả viết: Chủ trương rất đẹp, nhưng họ [Cộng sản] lại tự hào chỉ có Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản, chỉ có nền văn học, văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa mới phát triển được truyền thống dân tộc một cách trung thực và tốt đẹp, ngoài ra không một ai khác. (sđd).

(9) Cựu tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Tướng Lê Quang Lưỡng, trong một bài viết đăng trên Ðặc san Hoa Dù Denver, 30 tháng Tư năm 1998, đặt nghi vấn về ý đồ của vị tổng tư lệnh quân đội, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, khi ông ra lệnh xé lẻ đại đơn vị vũ bão hàng đầu này của quân lực ra từng lữ đoàn riêng rẽ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tại Việt Nam. Trước đó, Ông Thiệu cũng đã ra lệnh buộc một đại đơn vị vũ bão hàng đầu khác, Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, phải cấp tốc cùng với Biệt Ðộng Quân và bộ binh rút lui khỏi Vùng I Chiến Thuật, làm cho sư đoàn này bị thiệt hại rất nặng vì phải hứng chịu toàn bộ gánh nặng của một cuộc rút quân không có chuẩn bị. Nhiều cấp chỉ huy TQLC từng vào sinh, ra tử để tái chiếm và giữ vững từng tấc đất của vùng giới tuyến khỏi tay Cộng sản trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, 1972, đã uất ức tự sát khi bị địch bao vây và phục kích.

(10) [Ðiều cần ghi nhận là Miền Nam Việt Nam đã không sụp đổ chỉ vì những hành động có tính cách không ăn được thì đạp đổ đó của cựu Tổng Thống Thiệu, mà vì chúng ta đã bị đồng minh Mỹ bỏ rơi. Một khi Mỹ đã bỏ rơi rồi, không ai —kể cả người anh hùng ôtận trung báo quốcọ Nguyễn Khoa Nam— có thể giữ vững Miền Nam hay xoay chuyển tình thế trong giờ phút đó, vì chúng ta đã quá tuỳ thuộc vào viện trợ Mỹ. Vận nước đã đến hồi như vậy, cho nên mình cũng khó trách cứ riêng ai được.] 

(11) Nhiều người vẫn nghĩ rằng Tổng Thống Thiệu đã chơi khăm Tướng Minh Lớn cho bỏ ghét, vì giữa khi cuộc chiến đang khốc liệt và tinh thần quân dân Việt Nam Cộng Hoà có lúc đang lên cao, vị cựu lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm và cũng là lãnh tụ của cái gọi là thành phần thứ ba tại Miền Nam Việt Nam (mà Cộng Sản ưa thích) lại hô hào một giải pháp hoà bình, với chủ trương rằng Việt Nam Cộng Hoà nên đơn phương ngưng chiến đấu mà tiếp tục thương thuyết với Việt Cộng là phía luôn luôn áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa đàm trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Dĩ nhiên là Tướng Minh đã quá tin vào phe Cộng Sản nên mới chịu nhận trách nhiệm lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà sau khi một trong những phòng tuyến cuối cùng của phe chính phủ là Xuân Lộc, cách Sàigòn 70 cây số về hướng Ðông Bắc, đã mất — hay nói cho đúng hơn là sau khi quân Cộng Sản, mệt quá, đã bỏ không đánh Xuân Lộc nữa mà đi vòng về phía Sàigòn. 

(12) Xin xem When Hell Was In Session (Rớt Xuống Âm Ty) cuả Jeremiah A. Denton, một Ðại tá Hải Quân Mỹ từng bị Cộng Sản Bắc Việt bắt giam tại Nhà tù Hoả Lò Hà Nội sau khi phi cơ cuả ông bị bắn rơi trên vùng trời Bắc Việt trong Chiến Tranh Việt Nam. Nhà xuất bản Traditional Press, Alabama. 

(13) Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đây là bệnh bè phái chia rẽ. (bđd). 

(14) Thành tựu lớn nhứt về kiến trúc của Việt Nam cổ xưa là Thành Cổ Loa thời An Dương Vương Thục Phán mà nay đã bị thời gian với bao lớp sóng phế hưng và binh lửa tàn phá. Các tài liệu của Cộng Sản Việt Nam mô tả thành xây trên một khu đất cao và rộng, diện tích 92 hec-ta, nằm trên tả ngạn sông Hoàng Giang, gồm ba vòng thành theo hình xoáy trôn ốc. Chu vi vòng ngoài 8km, vòng giữa 6,8km, vòng ba là 1,6km... Bề rộng chân luỹ 20m, rộng 4m, cao 12m. Giữa hai vòng thành, nơi xa nhất 400m, giữa các vòng thành có hào sâu có thể lưu thông bằng thuyền. Mỗi luỹ có nhiều lối, nhiều ngõ thông nhau... 

(15) Theo Trần Trọng Kim, người Việt Nam cũng có khi quỉ quyệt và hay bài bác nhạo chế. (sđd). 

(16) Trong Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975 (Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ), tác giả Nguyễn Ðức Phương, khi đề cập đến Trận An Lộc, đã không hề nhắc nhở tới vai trò của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù là một đơn vị vừa vô cùng thiện chiến vừa đầy tinh thần cảm tử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Nếu Biệt Cách Dù không nhảy vào giải cứu An Lộc thì làm sao có được hai câu thơ bất hủ vinh danh: An Lộc địa sử ghi chiến tích; Biệt Cách Dù vị quốc vong thân? Nên nhớ là để soạn nên chương này, tác giả đã tham khảo tất cả tới 32 quyển sách, báo được liệt kê trong một thư mục dà ở cuối chương. Các hồi ký hay tường thuật của phe ta về những trận đánh lớn khác —như trận Quảng Trị chẳng hạn— cũng vấp phải lỗi lầm tương tự tuỳ theo người viết thuộc màu áo, màu mũ nào. 

(17) Thiệt ra, từ lâu đã có Thuyết Việt Nho, một công trình nghiên cứu hết sức khoa học và nghiêm túc do Giáo sư Kim Ðịnh khởi xướng và thuyết minh qua 14 tác phẩm mà ông đã viết. Ðại khái, tác giả cho rằng văn minh và văn hoá Việt Nam có trước hay ít ra cũng đồng thời với văn minh và văn hoá Trung Hoa, bởi vì giòng giống Việt (Bách Việt) từ phương Bắc đã tiến vào Trung Hoa trước để lập nên các triều đại cuả Vua Phục Hi, Thần Nông và Huỳnh Ðế. Sau đó Hoa tộc (tức Hán tộc) tràn đến. Và sau trận đánh tại Trác Lộc giữa Hoàng Ðế (lãnh đạo Hoa tộc) và Si Vưu (lãnh đạo Viêm Việt tộc), Si Vưu chết nên giống Viêm Việt lùi bước dần về phương Nam để trở thành người Việt Nam ngày nay. Trong quyển Nguồn Gốc Văn Hoá Việt Nam, Giáo sư Kim Ðịnh vạch rõ rằng Việt Nho chủ trương nhân chủ, dân quyền, bình quyền, bình quyền nam nữ, quân bình tình lý hay là văn võ song hành.

(18) Sử chép rằng đời Nhà Trần, sau những trận đánh Chiêm Thành, quan quân Ðại Việt thường bắt đem về nước các cung nga, vũ nữ cuả Chiêm Thành. Các đặc sứ văn hoá này đã truyền bá nghệ thuật Chiêm Thành tại Việt Nam qua các vũ điệu cung đình mà họ trình diễn, làm say mê ngây ngất triều đình ta và làm cho ta phải lật đật bắt chước. 

(19) Vào đúng lúc có Cuộc Ðấu Xảo Ba-lê, Phan Châu Trinh đã gởi cho Vua Khải Ðịnh một bức thơ dài, đại khái ông hài tội nhà vua là chỉ lo sống xa hoa, ưa xiểm nịnh và chuộng sự quỳ lạy cho rõ mình là một đấng quân vương mà không hề để ý đến phúc lợi của dân tộc Việt Nam lúc đó đang nằm dưới ách đô hộ cuả thực dân Pháp. Bức thơ có tác dụng như một gáo nước lạnh tạt vào mặt một vị hoàng đế, mà vào thời đó nếu không phải là một nhà Tây học được Hội Nhân Quyền Pháp hậu thuẫn triệt để như Phan Châu Trinh thì không một sĩ phu Việt Nam đương thời nào dám dỡn mặt.

(20) Nhiều người vẫn tin rằng dân tộc Việt Nam mình đặc biệt có khả năng xâm thực và làm hư hỏng bất cứ học thuyết đạo đức hay ý thức hệ chính trị nào được du nhập vào Việt Nam, cho dù đó là đạo lý Khổng Mạnh, học thuyết dân chủ Tây phương hay ý thức hệ Mác-xít Lê-nin-nít!

(21) Xin xem Vì sao tôi bỏ Quân Ðoàn I cuả cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, đăng trong Tạp chí Sóng Thần 1999, Kỷ Niệm 45 Năm Thành Lập Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà.

(22) Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, nghìn năm chưa dễ đã ai quên. Thơ Thế Lữ.

(23) Hai triết gia vô thần Ðức của thế kỷ 19 là Feuerbach vả Nietzsche lần lượt rao giảng tin dữ Thượng Ðế đã chết, và mọi giá trị truyền thống của con người theo đó cũng chết luôn. Hễ đã không có Thượng Ðế thì cuộc đời chẳng hề có mục đích và ý nghĩa gì, và con người được phép làm mọi sự mà y muốn.

(24) Ai cũng phải nhìn nhận rằng, qua cuộc xung đột tại Việt Nam, Cộng Sản Việt Nam đã chứng tỏ họ thuộc loại tàn ác nhứt, nhì thế giới, với thành tích thủ tiêu thiệt lẹ đối thủ theo phương châm thà giết lầm hơn bỏ sót, pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư (chỉ vì các khu này tình cờ nằm gần các căn cứ quân sự Mỹ hay Việt Nam Cộng Hoà), bắn giết dân lành vô tội ngay trong lúc họ đang chạy trốn Thần Chiến Tranh do chính họ thả ra, tạo nên những Ðại Lộ Kinh Hoàng và Quốc Lộ Máu vang danh trong lịch sử. Nhưng vì sao Ông Trời lại để cho họ chiến thắng? Tại sao Ông Trời lại bắt những người cầm súng bảo vệ dân lành và tự do cho dân tộc như các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải thua, phải chết thảm? Nếu còn phải đợi tới "ngày phán xét cuối cùng" lúc đó Ông Tròi mới chịu ra tay trừ bạo thì ai còn biết Ông Trời ở đâu? 

(25) Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu, nghĩa là Lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng không ai có thể thoát ra được. ý nói con người dù có thể thoát được luật pháp trần gian (nhờ cướp được chính quyền nên khỏi bị thế gian trừng trị) nhưng không thể thoát khỏi lưới Trời, bởi vì Thượng Ðế chí công và đầy quyền năng sẽ trừng phạt những kẻ gian ác, cho dù kẻ đó hiện đang cầm quyền sinh sát trong tay.