Thursday, June 7, 2012

CHUYỆN CON DẾ

Nhờ có bạn bè lưu lạc khắp năm châu nên tôi được đi đây đi đó hơi nhiều, "tham quan" một số danh lam thắng cảnh của nhân gian. Nhưng tôi phải thành thật mà khoe rằng, có lẽ không có mùa hè ở nơi nào đẹp và khí hậu dễ thương cho bằng mùa hè ở mấy xứ Bắc Âu này. Khi tuyết vừa tan, mùa đông chưa kịp hẹn lời tái ngộ, thì ngàn cây nội cỏ đã đua nhau đâm chồi nẩy lộc để chào đón ánh mặt trời. Trong núi rừng, dưới thung lũng, trên những cánh đồng lúa mì, hai bên đường, các bãi cỏ trong công viên, khắp mọi nơi, những cánh hoa loovetann vàng (trông như hoa cúc quê mình) nở rộ. Ở đâu cũng bát ngát một màu vàng. Cái nắng đầu hè lại dịu mát như mùa thu trên những cao nguyên bên quê nhà mà ngày xưa tôi đã có dịp đi qua trong những lần hành quân. Mùa hè ở đây gợi nhớ da diết đến quê hương và kỷ niệm. Đặc biệt tôi nhớ đến cha tôi và cả một thời thơ ấu mà tôi lớn lên không có mẹ. Tôi thường đứng yên lặng một mình trên bao lơn trong sở làm hoặc trước hiên nhà, nhìn ra những cánh đồng cỏ và rừng núi xa xa phía trước để trải hết lòng mình. Nhưng rồi dường như cũng không tránh khỏi định luật bù trừ của trời đất, mùa hè ở đây cũng như một cô con gái đẹp, lúc nào cũng muốn làm khốn khổ những chàng trai mê muội, mà người ta đã ví von là "cánh hoa hồng nào mà lại không có gai "

Chính cái phấn hoa từ rừng hoa bát ngát một màu làm vàng cả không gian kia, lại là mầm móng gây nên chứng bệnh dị ứng (allergi) để cho những thằng lười biếng chích ngừa kinh niên như tôi khổ sở không ít, khi cả ngày cứ ngứa ngáy mắt mũi.

Mà cũng nhờ vậy nên tôi phải nằm nhà để có dư thì giờ vào đọc mấy tờ báo điện tử bên quê nhà xem thế sự ra sao. Tôi cũng "hồ hởi" thấy báo chí bên nhà, thời kinh tế thị trường, đã "có vẽ" như trăm hoa đua nở trên mạng, trình bày cũng khá hấp dẫn, nên tôi lần lượt đọc qua một loạt các tin tức từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến pháp luật:

-Mừng 30 năm đánh thắng giặc Mỹ, đất nước thống nhất, thắng lợi vĩ đại của Đảng và nhân dân ta-/ Có thực sự chống được quốc nạn tham nhũng, khi mà tình trạng tham nhũng đã lên đến cấp Bộ: Bộ Nông Nghiệp, Bộ Dầu Khí rồi đến Bộ Thương Mại ? /- Thủ Tướng Phan văn Khải chính thức sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 6, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền bang giao của hai nước /- Một loạt các cô ca sĩ và ngưới mẫu bị bắt tại trận khi đang bán cái trời cho trong một đường giây sex / -. Diễn viên nỗi tiếng Yến Vi chưa hết xôn xao vì những đoạn phim quay cảnh cô làm tình, lại vừa bị bắt vào trại phục hồi nhân phẩm vì tội bán dâm-/. Sau vụ Phó CT/UBTDTT Lương Quốc Dũng vào tù vì tội hiếp dâm một em gái 13 tuổi có một thống kê cho biết có thể tới 80% cán bộ, viên chức nhà nước đã mua dâm- /-. Em Nguyễn Phi Thanh, học sinh lớp 11 A18 trường THPT Việt Đức Hà Nội, thí sinh giỏi môn văn, từ chối trả lời đề thi và viết ngay trong bài thi để phản đối hệ thống và cách giảng dạy lỗi thời "cứng ngắt", "không cho phép tư duy" của cơ quan giáo dục nhà nước /-. Ông Trịnh Vĩnh Bình, một Việt kiều ở Hà Lan kiện chính phủ Việt nam trước toà án quốc tế, đòi bồi thường 100 triệu đô la vì bị oan sai khi cho rằng chính quyền tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tìm cách bỏ tù ông để tịch thu toàn bộ tài sản mà ông đem về Việt nam đầu tư từ năm 1990 -/. Hạm phó chiến hạm USS Gary của Hoa Kỳ vừa được mời ghé tham quan cảng Sàigon là một người Mỹ gốc Việt: Hãi quân trung Tá Trần Quốc Bảo, rời khỏi Việt nam khi mới lên 7 tuổi -/ Truy tố nguyên chủ tịch và phó chủ tịch UBND Huyện Phú Quốc, tội ăn cắp đất của nhà nước để làm giàu phi pháp /-. Bắt một cán bộ tòa án liên quan đến vụ vận chuyễn ma túy với quy mô lớn /. HLV Đoàn Đình Lân, cựu tuyển thủ karate cấp quốc gia bị bắt khi đang cướp giật/ Hai TGĐ công ty PJICO bị bắt về tội hối lộ 1, 9 tỷ đồng./ Thu hồi danh hiệu giải Nhất và Cúp vàng Trí Tuệ Việt Nam 2003 của nhóm ICMS vì đã ăn cắp bản quyền của một tác giả người Mỹ /-.Ngân Hàng Thế Giới vừa viện trợ không hoàn lại cho VN 35 triệu USD cho chương trình phòng chống bệnh AIDS /. Cà Mau phát hiện 111 trường hợp xử dụng bằng cấp giả mà đối tượng hầu hết là cán bộ, quan chức nhà nước / Tình trạng khốn cùng của những cô dâu Việt nam tại Đài Loan và Singapore/….

Thú thật, tôi rất "bức xúc" và thấy buồn hơn là vui sau khi đọc qua một loạt tin tức trên báo chí quê nhà. Tôi đành tìm sang trang quảng cáo hy vọng thay đổi không khí, biết đâu lại tìm được đôi điều thú vị. Nhưng tôi bỗng giật mình, khi bất ngờ đọc tới cái đoạn quảng cáo nhỏ sau đây trên đầu một tờ báo: "Thịt Dế. Món ăn của người sành điệu nhất hiện nay" và phía dưới mô tả thêm: " Dân nhậu sành điệu rất khoái món dế, bởi thịt dế béo như tôm sú, ngọt như thịt cua, vừa thơm ngon bổ dưỡng lại vừa chửa được nhiều thứ bệnh như đau nhức, tê thắp, béo phì. Giá một con dế trong nhà hàng là 10.000 đồng. Dế có thể chế biến được nhiều món như chiên xù, xào lăn, kho tiêu, ram mặn, nướng kẹp bánh mì, lẩu, gỏi...Hiện ở thành phố Hồ chí Minh, 1 kg dế có thể bán tới 250.000đồng. Ở một số nước, dế được coi là món ăn "cao lương mỹ vị" và chỉ dùng để đãi khách quí, nên ở Thái Lan, giá 1kg dế lên tới 40 đôla, ở Mỹ là 60 đôla. Vốn là một loại thức ăn bổ dưỡng, dế rất hấp dẫn các du khách Việt kiều, Nhật Bản, Đài Loan, Australia... đến Việt nam.. Cũng như bất cứ loại động vật hoang dã nào, dế đã trở thành món đặc sản trong các nhà hàng hay các quán nhậu, nhất là ở TP/HCM." Một cậu bé chăn bò ở miền đồng bằng Nam Bộ, nhờ kinh nghiệm đá dế và bắt dế, vừa trở thành nhà tỷ phú vì lập ra một công ty nuôi và xuất cảng Dế mà cậu ta đang làm giám đốc, với sự trơ giúp của gia đình và chính quyền địa phương...".

Tôi rất "phẫn nộ" với cái đoạn quảng cáo này. Và đây là chuyện chẳng liên quan gì tới "chính chị chính em", nên tôi xin được bày tỏ lập trường:

Trước hết trong mẫu tin quảng cáo trên có hai sự kiện cần xét lại: thứ nhất, ông nhà báo trong nước nói thịt dế bổ dưỡng và chửa được nhiều thứ bệnh, Chẳng hiểu ông đã dựa theo tài liệu y học nào, hay chỉ phịa ra để cổ vũ một việc không lương thiện (ít nhất là đối với tôi): ăn thịt dế ? Thứ hai là dựa theo nguồn tin nào mà " cha nội " dám nói bừa là ở Mỹ giá 1kg thịt dế 60 đôla ? Tôi có một đám con ở Cali và vài trăm ông bạn HO ở khắp các tiểu bang bên Mỹ, kể cả Alaska, một nơi đèo heo hút gió, không ai từng thấy hay nghe nói có nơi nào ở Mỹ ăn và bán thịt dế ?

Nhưng chuyện nói láo là nghề của mấy ông nhà báo rồi. " Nhà báo nói láo ăn tiền " mà. Thắc mắc làm chi. Điều đã làm tôi đau đớn và phẫn uất nhất là tại sao thiên hạ đã bày ra cái cảnh đoạn trường này để cướp mất phần tuổi thơ đẹp đẽ, thơ mộng nhất của tôi và đám bạn bè tôi. Trời ơi, bộ mấy cha tư bản mới bên Việt Nam hết cái gì nhậu nhẹt rồi sao, mà bây giờ đẻ ra cái phong trào nhậu thịt Dế. Những con Dế thân thương của bất cứ một thằng con trai nào trong thời thơ ấu. Tiếng gáy của Dế và tiếng hát của Ve Sầu nó gắn liền với suốt một thời cắp sách tới trường, mà dư âm của nó vẫn theo đuổi mọi người cho tới giờ xuôi tay nhắm mắt. Chắc các bạn đã từng say mê cuốn " Dế mèn Phiêu Lưu Ký " của nhà văn Tô Hoài ? Lớn lên một chút, chắc các bạn cũng đã từng nghe hay thuộc lòng bài hát "Thằng Cuội" của Lê Thương:" Có con dế mèn suốt trong đêm khuya hát xẩm không tiền nên nghèo xơ xác...". Như vậy trong tuổi thơ của mỗi người đều có hình ảnh con Dế. Không chỉ ở Việt nam ta mà những xứ châu Á gió mùa, và cả ở châu Âu, châu Mỹ cũng vậy thôi. Hồi còn học trung học tôi đã đọc được ở đâu đó một đoạn văn của Charles Dickens, viết rất hay về những chú dế crickets bu lại dưới ánh đèn khuya. Mới đây một bà mẹ Mỹ, khi nhắc tới tuổi thơ của con trai mình cũng nói thật nhiều tới con Dế. Như vậy, Dế đã có mặt khắp nơi, tham dự vào những tuổi thơ diễm phúc cũng như tủi cực. Hơn thế nữa, Dế còn có mặt trong văn chương, không những nói về tuổi thơ, mà còn biểu tượng cho quê hương, cho bè bạn và cho cả những niềm đau, nỗi nhớ. Lúc nhỏ tôi say mê Dế. Lớn lên và ngay cả lúc sắp già như bây giờ, tôi lại càng say mê những bài thơ có bóng hình và tiếng Dế. Vì vậy với riêng tôi, con Dế phải được viết hoa. Cho dù tôi biết viết như thế là sai chính tả.

Như bao đứa bé khác, tuổi thơ của tôi cũng gắn liền với con Dế. Tôi đã từng say mê bắt Dế, nuôi Dế, đá Dế, và thức cả đêm để nghe Dế hát. Con Dế cũng đã cho tôi nhiều cơ hội làm quen khi xin mấy sợi tóc của mấy cô bạn gái cùng lớp, cột vào đầu con Dế quay quay cho nó "hứng " lên trước khi vào trận đấu. Con Dế cũng đã cho tôi và đám bạn bè tuổi nhỏ có đủ niềm vui trong những mùa hè ở một vùng quê nghèo nhưng rất đỗi dễ thương. Một con Dế, sau một trận đấu, chỉ cần mất một sợi râu là tôi muốn khóc. Quê tôi ở tận ngoài Vạn Giã. Tôi mồ côi mẹ từ lúc mới lên hai, ba tôi bận dạy học ở trường Pháp-Việt, nên hai anh em tôi được ở với ông bà nội. Tôi có bà cô út, rất thương yêu lo lắng cho anh em tôi, Mỗi lần tôi làm nũng, là bà nội tôi sai cô tôi dắt tôi ra ao sen trước nhà tìm bắt mấy con Dế "mun". Tôi còn nhớ một đoạn thơ của ai đó có tâm sự giống tôi:

" Bao giờ cho đến ngày xưa
Để nghe tiếng võng đong đưa của bà
Để dầm nắng dưới đầm hoa
Rình con dế cụ thò ra thụt vào.."

Con Dế, còn để lại trong tôi một kỷ niệm xót xa, mà cứ mỗi lần nhớ tới, tôi không làm sao ngăn được dòng nước mắt. Ba tôi rất cưng tôi, một phần tôi không có mẹ. Có những ngày đi dạy học, ông chở tôi theo trên chiếc xe đạp. Đến trường ông giao tôi cho mấy chú học trò lớn của ông vừa chơi vừa dạy tôi học. Lúc ba tuổi, tôi đã biết được con ngựa cheval nhảy qua hòn núi montagne, ăn cỏ herbe, uống nước de l'eau. Một buổi trưa trời nắng gay gắt, trên đường về nhà nội tôi, khi qua một khu nghĩa địa, nghe tiếng mấy con Dế gáy trong mấy bụi cây bàn chải (loại cây mọc thành lùm và có đầy gai), tôi lấy tay đập sau lưng ông và bảo ông dừng xe lại bắt cho tôi mấy con Dế. Tội nghiệp, ông cũng chìu thằng con ngu ngốc, xuống lục lọi trong mấy bụi bàn chải gai góc cả nửa giờ, mà vẫn không thấy tăm hơi con Dế nào. Dế thuộc loại tinh khôn, khi nghe có tiếng động, nó im bặt. Nhưng khi Ba tôi vừa leo lên xe thì chúng lại tiếp tục chơi màn hòa tấu. Màn hòa tấu này lúc ấy còn hấp dẫn tôi hơn là một dàn nhạc hòa tấu mà tôi vừa được may mắn tham dự tại một nhạc viện nổi tiếng của thành phố Paris. Tôi nhất định không chịu lên xe, khóc lóc đòi Ba tôi phải xuống bắt cho được Dế. Ba tôi năn nỉ một chặp, ngồi xuống kề vai cho tôi trèo lên, nhưng tôi càng khóc lớn hơn. Gần cả giờ ngoài nắng, mà chỉ sau đó hai tiếng đồng hồ nữa thì ông phải đi dạy tiếp buổi chiều. Giận quá, ông bứt một cây "bộng giếng" quất tôi mấy cái rồi lôi tôi lên xe. Về nhà, tôi hờn, nhất định không ăn cơm và tịnh khẩu không nói một lời nào. Ông năn nỉ bao nhiêu lần, tôi cũng nhất định nằm quay mặt vô vách. Lúc ấy tôi giận Ba tôi thật, vì từ trước tới nay ông cưng chiều tôi biết chừng nào. Ông chưa hề nói một lời nặng với tôi. Tôi càng làm ra vẻ tủi thân hơn, ra ôm chân cái bàn thờ của má tôi ngồi thút thít. Cả bà nội và cô út tôi dỗ dành, cho tôi mấy cái bánh rán (loại bánh mà lúc nhỏ tôi thích nhất), tôi cũng làm lơ, mặc dù đang đói và thèm ghê lắm. Buổi chiều hôm đó, Ba tôi về sớm hơn thường lệ, ông đem về cho tôi hai con dế thật oai vệ, và một cái hộp giấy làm chuồng, có chia từng ngăn rất đẹp. Trong đó cả một mớ cỏ non mơn mởn. Đó là lần duy nhất Ba tôi đánh tôi, và cũng là lần duy nhất tôi giận Ba tôi.

Tháng 6 năm 1976 ông chết trong trại tù cải tạo Đá Bàn, khi tôi đang bị tù ở vùng Việt Bắc. Hơn hai năm sau tôi mới nhận được tin buồn. Tôi đã khóc đến không còn nước mắt. Từ hôm ấy, đêm nào ngủ tôi cũng mơ màng tưởng mình đang nghe tiếng Dế.

Sau hơn 15 năm phải bỏ quê lưu lạc xứ người, lần đầu tiên tôi về thăm quê hương và ngôi mộ của ba tôi. Cũng vào một buổi trưa hè, gay gắt nắng, khi đang quỳ trước mộ ông, tôi lại nghe tiếng một con Dế gáy vang trong lùm cây trước mộ. Kỷ niệm ngày xưa bỗng dưng oà tới, tôi xót xa ngồi khóc sụt sùi.

Ông anh tôi, lớn hơn tôi hai tuổi, hiền như cục đất. Lúc nhỏ hai thằng chơi với nhau, tôi thường ăn hiếp anh tôi. Tội nghiệp, anh theo tôi bắt Dế suốt ngày, Có lần một con Dế chết, hai đứa bày ra chuyện tổ chức đám ma cho Dế. Cái này ông anh rành hơn tôi. Chúng tôi dùng một cái hộp dầu nhị thiên đường tô màu đỏ làm chiếc quan tài rồi làm lễ " tiễn đưa con Dế đến nơi an nghỉ cuối cùng", dưới một gốc cây xoài. Bây giờ hai anh em cũng đã sắp già, có cuộc sống riêng. Nhưng mỗi lần nhớ tới anh là tôi nhớ tới con Dế và trong lòng cứ thấy rưng rưng.

Lớn lên, trải qua bao nhiêu thăng trầm, con Dế vẫn không rời xa tôi. Tôi say mê và dễ bị xúc cảm khi đọc những bài thơ về Dế. Đến nỗi tôi nghĩ dại rằng, đấng làm thơ nào mà chưa hề viết về con Dế thì chưa phải là thi sĩ. Ôn Như Hầu tiên sinh viết:" Đâu ngờ tiếng dế than ri rỉ / Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng." Nguyễn Khuyến tả cảnh đêm hè cũng có tiếng Dế kêu tha thiết. Nhiều thi sĩ thời nay viết về Dế như một lời tự tình bi thảm. Du Tử Lê viết: "Con dế mèn tự tử giữa đêm khuya..". Nhà thơ Tô thùy Yên, người bạn cùng tù với tôi đã viết: "Đây rồi chú dế giang hồ ấy / vẫn hát say sưa dưới cỏ buồn..". Đặc biệt anh đã trút hết nỗi lòng của một người tù trở về sau 17 năm cải tạo trong "Ta Về" Bài thơ khá dài và thật cảm động, được phổ biến rộng rải ở hải ngoại. Một đoạn trong bài thơ có bóng dáng tội nghiệp của con Dế :

"...Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm những tối vui
Trăng sáng lưu hồn ta vết phỏng
Trọn đời, nỗi nhớ sáng không nguôi
Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống đương đầu với lãng quên
Con dế, vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen..."

Lưu lạc xứ người bao nhiêu năm, lần đầu tiên trở về thăm làng cũ, chạnh lòng khi nghe tiếng Dế, tôi cứ tưởng như nó nói lên giùm tâm sự của chính mình:

... Hỏi thăm bụi chuối bên đường đó
Chú dế nào kêu giọng xót xa
Bao nhiêu oan khổ trăm năm cũ
Vẫn cứ ngân đều điệu xót xa..

Nhà thơ Trần Hoài Thư, cùng học với tôi ở Võ Tánh. Thời đi học ở cùng một nơi với tôi: Rộc Rau Muống, Nhatrang. Sang Mỹ sớm và công thành danh toại, đã viết về con Dế ngày xưa của anh. Bài thơ đã làm tôi xúc động nên thuộc lòng:

"Con dế nào của tuổi dại u mê / Cứ than vãn giữa trưa hè xứ Mỹ/ Hay chú dế của một thời ủy mị/ Đang gọi những mùa hè đã mất trong ta/ Đang gọi những cánh đồng xưa bao la/ Những cánh đồng ngập tràn rau muống/ Oâi những ruộng đường, Những bước chân luống cuống / Giữa một vùng đầy nhạc dế xênh xang/ Biết chú nào núp ẩn giữa rộc non/ Nô giởn cùng cộng rau tươi mát / Gậm nhấm những chồi non xanh ngát/ Đôi cánh thổi kèn thả nhạc đêm xanh

Đứa nhỏ nào của xứ Nhatrang / Của thời Sinh Trung chưa bồi chưa lở / Của mỗi năm, những trái xoài trái ổi/ Rủ nhau xum xuê dưới bóng mát thiên đường / Của những ngày loạn lạc nhiễu nhương/ Của những đêm trăng, Sân nhà Sâm trắng như bánh tráng/ Chú dế của ta cũng theo mùa trăng để lớn/ Gọi cô nàng bạn gái trong hang /Thằng bé cũng lớn lên theo những mùa trăng/ Nhớ Sâm đi tìm cho Sâm chú dế / Chú dế có đôi càng vương đế /Râu vút lên trời, đầu bóng như mun / Chú dế giữa đồng xanh thẩm chơi rong / Cứ khuyến dụ ai một thời dại nhỏ

Một thời ai tắm truồng không mắc cỡ/ Hái trộm xoài vẫn nhớ tới Sâm/ Nhớ chú dế nào to nhỏ trong đêm/ Khiến ta cứ xôn xao hoài phải thức/ Chú dế của ta, cánh màu hung đất/ Trước bạn trước thù râu cũng vênh vang/ Chú cũng như ta- tóc hạ Nhatrang/ Hồn xanh mướt mây Hà Ra Xóm Bóng/ Da đồng đen của mặt trời dưới Chụt /Tóc hung hung của nắng lửa Hòn Chồng/ Chú theo ta, lên Rù Rì mênh mông/Du thủ cùng ta xóm trên xóm dưới/ Ta thương chú hơn trái xoài trái khế/ Trên đầu giường, bên cạnh chú, hồn ta.

Nhà thơ Quan Dương, gốc Ninh Hòa chính hiệu, người bạn trẻ dễ thương của tôi, đã từng gởi hồn mình qua Tiếng Dế xót xa. Bài thơ thật hay đã làm tôi vô cùng cảm động:

" Gió xô chiều ngã xuống hướng Tây, vài chiếc lá khô đang ấp vòm cỏ dại / Sợ lạnh nên lá vàng trước tuổi / Mùa thu đang khoát lá màu chàm, phủ trùm lên giọt nắng chưa tan / Chiều đang bước dần vào bóng tối / Con dế ru thều thào yếu đuối / Lâu lắm rồi mới nghe lại tiếng dế than / Đây là xứ Mỹ chứ đâu phải Việt Nam / Sao lại có tiếng dế buồn thảm thiết ?

Tiếng dế dìu hồn tôi về thuở trước / Thuở nằm rừng với thằng bạn lính tuổi thư sinh / Trung đội hai thằng bố trí hình mũi tên / Bờ ruộng, sình lầy ngập lên tới bụng / Phía sau lưng đêm lầm lũi rụng, trước mặt là tiếng dế như sẫm chiều nay / Trong đầu mỗi thằng dệt sẳn vài câu thơ / Để dành lại nếu ngày mai còn sống, sẽ xớt chia từng ly thơ để uống / Để gọi là mừng sau một đêm qua truông.

Tuổi trẻ của bọn tôi giữa thời buổi chiến tranh, tàn thuốc hút chung nặng đầy tình nghĩa / Ngụm rượu đế sau lần tiếp tế, nồng say hơn rượu X.O nhiều / Thời khổ nạn dám chết cho nhau, những thằng bạn khác gì Lương Sơn Bạc ?

Chiều nay xứ người nghe con dế khóc / Thấy đất cựa mình theo bước quân đi / chinh chiến lụi tàn trên đất nước từ lâu / Con dế khóc ? Hà cớ gì cháy lại?/ Hay là lửa dấu trong lòng âm ỉ? / Chỉ đợi hơi xăng là bốc khói ra ngoài?
Thằng bạn tôi ở lại chiến trường xưa, thân xác giờ này cũng đã tan theo gió bụi / Lâu lắm rồi tôi giả đò không còn nhớ / Có phải bạn trách tôi theo tiếng dế đến nơi này ?/ Nơi tôi sống bây giờ toàn xa lộ freeway / Hỏi bạn ? Tôi tìm đâu ra vùng sình lầy ngập nước / Để hai đứa ngâm mình hút chung điếu thuốc, để bạn dạy tôi hai tiếng đồng bào / Để bạn giải thích cho tôi hiểu tại sao, tuổi trẻ bỏ quên mà không hề hối hận.
Thu khoác lên vai chiếc áo lạnh / Tôi mở cửa vào nhà có máy sưởi vặn lên / Nhìn qua khung cửa kiếng ngoài hiên / Con dế núp nơi nào trong đám cỏ?/ Chú dế bé con ơi, thôi đừng khóc nữa / Tôi đã ươn hèn từ lúc bỏ nước ra đi /

Đó là con Dế ngày xưa của những người bây giờ đã già, qua bao nhiêu thăng trầm, vẫn mãi mang theo, vẫn còn da diết nặng tình với Dế. Bây giờ ta hãy nghe con Dế trong thơ của những người rất trẻ, sinh ra và lớn lên ở hải ngoại. Bài thơ của Barbara Trần là một điển hình. Cô sinh và lớn lên ở New York, tốt nghiệp cao học nghệ thuật tại đại học Columbia, cùng với ba người bạn đồng lứa, chủ biên tuyển tập Ngấn Nước, gồm toàn văn thơ của những người Mỹ trẻ gốc Việt. Con Dế của cô không còn là biểu tượng của tuổi thơ hay nỗi niềm da diết, tình tự ở quê nhà, mà chỉ còn là một cuộc ái ân.

"Đêm tôi nằm
dụi vào người chồng
hy vọng trốn chạy chính mình
gắn chặt thân thể chàng
như thể khi mơ
chàng có thể nghĩ rằng tôi
như con dế
trên lá cỏ
của mảng lưng chàng.
Dế và cỏ cùng
đu đưa
trong gió,
nhẹ như hơi thở
chúng tìm ra một vùng đất
Tôi bỗng thấy mình cô độc
Trên cánh đồng này.

Mặc dù đây lại là một con Dế khác, hoàn toàn khác. Nhưng mà con Dế cũng dể thương và chắc chắn trong đám đàn ông chúng ta, ai lại không muốn có một con Dế như vậy. Phải không ? thưa các bạn ?

Đọc tới đây, chắc bà con thiên hạ không nỡ nào còn nhẫn tâm bắt con Dế của tôi mà làm thịt nhậu chơi. Oan hồn của nó sẽ theo kẻ nào giết nó mà rên rỉ than khóc suốt đời. Vậy thì không một ai được phép phạm tới con Dế, để bắt nó trở thành một thứ gì đó rất tầm thường, đến phàm phu tục tử: thịt dế. Nếu tôi có quyền, tôi sẽ thêm một điều khoản đặc biệt trong hiến pháp nước CHXHCNVN: Tuyệt đối cấm mọi hành vi làm bách hại tới con Dế. Hình phạt tử hình cho những ai ăn thịt Dế và buôn bán Dế để làm thịt.

Từ ngày rời khỏi quê hương đến nay, đã hơn 20 năm, tôi rất xa lạ và chưa hề được hô khẩu hiệu. Trước khi chấm dứt mấy dòng cà kê nhưng đầy tâm huyết này, tôi xin khóa cửa lại để hô to khẩu hiệu:

- Con Dế muôn năm. Con Dế sẽ sống mãi trong lòng và trong sự nghiệp văn chương của chúng ta.

  


Phạm Tín An Ninh
      Vương Quốc Nauy
         Vào hè 2005

TRỜI ĐẤT BAO LA



Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe  Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới mười ngàn cây số khứ hồi, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Lại nghe mấy người bạn tới trước hù, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe, thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.

Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi, nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh sát với súng ống dầy người, trông mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa bình, tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước mà tôi nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa Tulip, với vườn hoa lớn và đẹp nhất thế giới, những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng.
Ở thủ đô Amsterdam, có một nơi dành cho những người nghiện đến nhận thuốc phiện miễn phí của chính phủ; nguyên cả một khu phố lớn dọc theo bờ sông thơ mộng lại là một khu dành cho mấy cô gái điếm đủ sắc dân. Đây là một cơ sở kinh doanh, có đóng thuế cho nhà nước, nên dược cảnh sát bảo vệ. Trước mỗi nhà là một cái tủ kiếng, bày hàng thật cho khách bốn phương chiêm ngưỡng. Hàng thật là một hay hai cô gái thoát y 90%, dĩ nhiên phải là đẹp, đứng như những pho tượng nữ thần Hy lạp. Chúng tôi ghé thăm gia đình mấy ngưòi bạn cùng quê, sống rải rác khắp nơi. May mà đất nước Hòa Lan này không rộng lắm, lái xe từ bắc xuống nam chỉ mất khoảng bốn tiếng đồng hồ. Dừng lại nhà một người bạn ở Bergen op Zoom, thành phố biển phía nam chúng tôi tha hồ ăn sò huyết và những con "hàu". Mấy loại này ở đây chỉ cần lội xuống biển mười phút là mang lên cả thùng nướng ngay tại chỗ. Hôm sau, chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng chúng tôi đến Pháp.

Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân. Tôi bắt gặp đâu đó những đứa trẻ trong Sans Famille của Hector Malo, những người đàn bà trong Les Misérables , và cả những bến tàu có cảnh tiễn đưa trong Oceano Nox của Victor Hugo. Chúng tôi ở trong khách sạn của một người Hà Nội, sang Pháp lập nghiệp từ hơn 50 năm trước. Khách sạn nằm trên con phố chính trong quận 13, nơi có đông ngưòi Việt Nam sinh sống.

Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Đại Tây Dương, gần thành phố Cannes nơi qui tụ những tài tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có quá nhiều phiền muộn này.

Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con gái của tôi đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ,, xem thử nơi đã cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố " lệnh hành quân". Chúng tôi không đi theo xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế. Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ "tuyến xuất phát", tôi mới biết là mình đã sai lầm khi xử dụng con đuờng tắt này. Vì chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người.

Đang mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt , vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở Việt nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm vô- lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một chập, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mớí phát hiện là sợi dây cu-roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ và đám con gái đang nằm trên bờ cỏ ruộng lúa mì, ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh " đóng quân tại vị trí " vì xe hư không biết khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.

Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa, thì nghe có tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó, càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi.
Qua ánh đèn xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu:
- Chắc là xe các anh bị hư ? Có cần tôi giúp điều gì không?

Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, tôi hiểu tiếng được tiếng mất, vừa trả lời vừa ra dấu:

- Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không chạy được nữa.
- Các anh ở tỉnh nào tới ?
- Chúng tôi từ Nauy sang, chứ không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.
Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ tính..Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.
Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng chỉ khoảng 10 phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chập sau anh lại mang vào bánh mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi người ngủ ngon.

Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.

Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con gái của tôi.
- Các anh là người Việt Nam ? Anh ta vừa bưng tách cà phê vừa hỏi.
- Nhưng làm sao anh biết được vì ở bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn , người Thái Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại anh.
- Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.
Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt nam thật to treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.
Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn nho.

Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.

Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam tỏa ra thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng tên khắc đậm trên bia..


Khi đọc đến tên người mẹ:
JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER - tôi bỗng giựt mình.


Cái tên này tôi thấy quen lắm. Bà mất lúc tròn 50 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một người.

Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng ? - Không thể nào ! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.

Năm học lớp đệ nhất trường Võ Tánh, Nha Trang, dù học không giỏi nhưng tôi cũng cố gắng để được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên hạng bét, và cũng để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời làm gà trống nuôi con. Vậy mà tôi bị một lúc hai cái tai ương. Tự dưng có một nàng con gái, mà lại là con gái đẹp, yêu tôi. Đang ngụp lặn trong tình yêu thì ông Trời phạt tôi: phận nhà nghèo mà lại đèo bồng yêu người đẹp, nên giáng cho tôi một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Vì vậy khi bạn bè vác lều chỏng đi thi, thì tôi đang nằm bất động ở nhà thương tư của bác sĩ Thạch ở đường Trần Quí Cáp. Ba tháng sau, khi vừa xuất viện về tiếp tục điều trị tại nhà, tôi nhận được bức thư tạ từ. Người đẹp đi lấy chồng. Tôi bỏ thành phố Nha Trang, bây giờ với tôi là thành phố buồn, vào Sài gòn lang thang kiếm việc làm thuê để có tiền đi học tiếp. Nhưng rồi cũng chẳng có ai chịu thuê một thằng thư sinh nhà quê như tôi. Vừa buồn vừa không có tiền trả tiền cơm cho bà Cả Đọi, tôi đăng vào lính.

Khi chân ướt chân ráo vào Sài gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được tòa đại sứ Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các trường Tây Sài gòn, Đà lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách Tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó không phải là tên thật của cô.

Chỉ đi chơi với nhóm một vài lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn Alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn Alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai Alpha.
Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài gòn, họ làm một buổi tiệc chia tay tôi. và lần này tổ chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm lớn trên Tân Định.
Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc loại nhà giàu. Tôi nghĩ như thế.
Tới hơn hai giờ sáng, tiệc mới tàn. Khi nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn tôi trên má.
Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, tôi bất chợt nhớ đến nàng, mở xách tay ra tìm lại tấm ảnh. Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi: À toi, avec tout mon coeur. Phía dưới cô chỉ ghi là người có mái tóc Sylvie Vartan.
Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình: Đúng là lãng mạn như Tây.

Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng 30 cây số, do một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng buôn súng.

Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là người thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do Thổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh sáng lập để thu hút di dân sau 1954.
Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vã và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học , và khuôn mặt những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì? Vì giữa nàng với tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận, gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp và quí phái. Nàng quen với tôi , thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.
Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường nhất. Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư sinh. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội solo xuống núi biệt phái cho tiểu khu Lâm Đồng
Đoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu trên QL 14, từ Saigòn chạy lên Đàlạt, vừa bị đặc công giựt sập trong hai đêm trước.
Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ khí nặng, nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yễm trợ hỏa lực. Phía duới khu đồn điền này là cây cầu Đại Ngà, cây cầu dài nhất vừa bị phá hoại.

Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân báo của đại đội tôi phối hợp cùng với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.

Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sài Gòn lên. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấy tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra. À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ? Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát ; cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng Tây mà anh chưa kịp hiểu.
Cô nhìn tôi cười rạng rỡ :
- Anh là anh Ninh, phải không ? Mấy năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie.
- Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. -
Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền -
- Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chổ tôi chơi. Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.
Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:
- Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.
Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.

Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên Đà Lạt , như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không biết là mình đang nói dối.

Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời chúng tôi dùng bửa cơm chiều với ông. Bửa cơm đầy đủ hương vị tây , mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bửa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.
Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng tỏa ánh vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng dưới ánh trăng , nghe từng nhịp đâp của trái tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe về một ước mơ của nàng : muốn có lần trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một bải cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ rộng mênh mông
- Anh có thấy gì lạ không ?
Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng cây bên kia bờ suối
- Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?
Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert không ?
- Lúc học Littérature Francais , anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động. Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.
Nàng cất tiếng khe khẻ hát bài thơ Les feuilles mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu:
            Et la vie sépare ceux qui s'aimant
           Tout doucement, sans faire de bruit
           Et "le vent" effface sur la "plaine"
           Les pas des amants désunis.
Tôi hỏi sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.
Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ lại mẹ và hai chị em nàng. Những người con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không anh ? mấy lần nàng hỏi tôi như thế.
Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.

Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành quân TK Lâm Đồng xin gặp ông Tiểu Khu Trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc xe jeep của TK biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông Tiểu Khu trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội phó.

Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách sạn La Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cỡi ngựa ở sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya.

Ngày hôm sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thưởng thức cà phê Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm dưới dòng thác. Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.

Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại trường Domaine de Marie để gặp lại em nàng. Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt: Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em nữa. Hôn anh.

Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường. Tôi ngồi trên xe nhìn thẩn thờ vào khu trường. Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước cổng.

Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự bao giờ.
Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một khoảng trống bao la.

Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.

Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.
Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của nàng: Jacqueline Cuvéro.
May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà nàng yêu thích.
Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais mon amour silensieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la vie
Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sàigon. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt Nam.
Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.
Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đôi tôi nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong.

Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ: Jacqueline, màu vàng. Mấy thằng lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giã vờ: tại vì tao ái mộ bà vợ của Tổng Thống Kennedy.
                                     
                                     

 

Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng tôi một bũa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra những dấu tích của nàng.

Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi vào khu nghĩa địa.

Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông Đà Lạt.

Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.

Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì thầm trong gió :

Et la chanson que tu me chantais
Toujours, toujours je l'entendrai. !
    (Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe
     Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây)
  


Vương Quốc Nauy, mùa hè 2004
Phạm Tín An Ninh

LÀM RỂ NINH HOÀ


    (Viết để vinh danh những người vợ trung hậu Ninh Hòa)
  


T
hời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc giòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét, có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu " Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường " mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài "đường trường xa".
Khổ thì khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. Vì "nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng? .. ". Nhờ vậy trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối tình con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, thì thôi chớ tính chuyện vợ con làm gì cho nó vướng chân vướng cẳng. Hơn nữa, tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, nên làm gì có chuyện "chết trong mắt em". Vậy rồi trời xuôi đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quãng Ðức, Ban Mê Thuột rồi Bình định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống bãi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy lòng lâng lâng sung sướng vì không khí yên bình của thành phố biển, mà cũng vì tưởng mình đã được trở về với những "hang động tuổi thơ " của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi còn mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục "hát khúc quân hành ". Ðoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở Dục Mỹ. Nhưng tôi đã "ước tính tình hình" sai bét. Ðoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngã ba Ninh Hòa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn còn đang say ngủ. Ðại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước " thăm dân cho biết sự tình".
Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nhìn tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện tình cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Hòa hơn một năm sau. Trường Trần Bình Trọng cũng vừa có một cô học trò bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa "Trăng Mường Luông ".
Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Hòa, là tôi nhìn thấy có tôi trong đó :
  Cái ông nhà thơ Quan Dương này làm thơ hay thiệt. Cứ như là giỡn chơi vậy mà buồn đến cháy gan cháy ruột.
Hồi nhỏ tôi rất anh hùng
Một mình dám nhảy cái đùng xuống sông
Bơi nghiêng, bơi ngửa giữa dòng
Hiên ngang trấn giữ một vùng tuổi thơ
…………………………………………
Lớn lên trở chứng ngu khờ
Mắt em nào phải bến bờ sông sâu ?
Cớ sao chưa kịp lộn nhào
Ðành chịu chết đuối, thiệt đau đúng là..
Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. Vì lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Ðã vậy đứng ở Ninh Hòa lúc nào nàng cũng nhìn thấy hòn núi vọng phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học trò Trần Bình Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một mình chống chọi với phong ba.
Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận thì chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho "người tình bé nhỏ " ngày xưa. Tôi tự trách mình, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, thì biết đâu nàng chẳng tìm lại một "đấng cố nhân" nào đó - mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với lòng ngưỡng mộ - bây gìờ đã là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi tìm vùng đất hứa.
Rồi nàng bỗng dưng trở thành con cò lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng - ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.
Tôi còn nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quý Anh vì Anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, Anh làm tặng tôi một bài thơ khá dài và hay lắm. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. Vì vậy tôi không còn nhớ hết mà chỉ thuộc lòng mấy câu viết về nàng:
Tám năm áo rách bao nhiêu lượt
Em vá chồng lên những nỗi niềm.
Từ thuở anh đi nhà tróc nóc
Con thơ đâu còn biết vui cười
. . . . . . . ……………………….
Cô gái Ninh Hòa, thương quá đỗi
Một mình chèo chống giữa phong ba
Ra khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng còn mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, một đàn con thơ dại, giữa một xã hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay sở làm sao? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng.
Có lẽ ông trời không phụ lòng nàng. Chuyến đi vội vã, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người tìm cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cõi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con cò trong một vùng tuyết lạnh mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng..
Bây giờ những đứa con đã trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn quốc gia nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng chỉ còn có tôi, ngưới lính thất trận năm nào đã mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn giông bão năm nào dường như vẫn còn đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.
Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà tôi thì cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình . Và tôi còn nợ nàng, nợ Ninh Hòa. Mãnh đất hiền hòa đã cho tôi một người vợ chung tình, cùng tôi qua bao nhiêu cuộc biển dâu.
  


Phạm Tín An Ninh

NHỮNG BÀI HÁT CỦA MỘT THỜI BINH LỬA

Từ giữa thập niên 60, chiến trường miền Nam bắt đầu sôi động, hàng hàng lớp thư sinh phải từ giã mái trường, phố thị ,"xếp bút nghiên theo việc kiếm cung". Người lính miền Nam lúc âý được thi ca nói tới như là những chàng tuổi trẻ hiền lành, lãng mạn, đi hành quân như vui thú với rừng núi sông hồ, mà hành trang lúc nào cũng kèm theo thơ túi rượu bầu và hình ảnh một người tình nho nhỏ ở hậu phương:
"..Kẻ thù ta ơi, những đứa xâm mình
Ăn muối đá và hăng say chiến đấu
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân với rượu đế mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.."
( NBS)
Những chàng lính 19, 20 thời ấy không phải là những người hăng say chém giết, không hề muốn " xẻ dọc trường sơn" để "sinh bắc tử nam", mà chỉ muốn anh em một nhà cùng sống trong hòa bình an lạc:
Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
(NBS)
Cũng từ thời gian đó, xuất hiện những bản nhạc của Trần Thiện Thanh và tiếng hát của chính anh, ca sĩ Nhật Trường. Những bài hát viết về lính, về tình yêu của lính. Những người lính lãng mạn hào hoa, và những cuộc tình đẹp, dễ thương như mùa thu, như hoa tím trong rừng sim, cho dù kết cuộc chỉ còn là những "chiếc khăn sô của người cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân và những dòng nuớc mắt" .
Ta thử hình dung những người lính ấy trong bài "Tình Thư của Lính" :
" Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo treillis
Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây
Ngại chăng đêm di hành và thường khi dừng bước giữa hoang vu
Một thằng ước ao, để một thằng khát khao, còn mình thì nằm đếm sao. . ."
Người lính thuở ấy, dù nay đây mai dó, nhưng rất đỗi chung tình và biết chấp nhận những chia lìa mất mát. Cho dù lúc nào " ngày anh đi sông hồ cũng in dáng em" và vẫn biết là:
"..nếu em không là người yêu của lính
em sẽ nhớ ai chủ nhật trời xanh
em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng ?"
nhưng người lính lúc nào cũng lo sợ mình sẽ mang nỗi buồn và điều bất hạnh đến cho người tình nhỏ, nên nhiều lúc đành phải lặng lẽ chia tay: " biết trả lời sao, khi chưa nói yêu mà đã xa rồi..".." sẽ không trả lời đâu, khi anh muốn em đừng vướng u sầu.."
Cho dù biết " tôi chỉ là người lính phong trần, thấy hoa nhớ người yêu rất xa" (Hoa Trinh Nữ), " trong bao lần quân hành, tôi qua vùng khô cằn mồ hôi thành biển mặn trên môi " (Biển Mặn) hay " Anh vì lửa khói quê hương, đường hun hút biên cương, một mình ngắm trăng suông.. Từng chiều rớt bên sông em có mơ gì không ? (Chân Trời Tím)
Và cho dù người tình của lính có sẵn lòng chấp nhận thương đau:
".. Nếu anh không về nữa, thì em xin chiếc khăn sô
Lỡ anh không về nữa, hàng cây đêm sẽ đứng gục đầu
Và vì sao khuya khép mắt sầu",
(Chân Trời Tím)
nhưng người lính đa tình vẫn luôn ưu tư cho người tình nhỏ:
"..Giờ này thành phố chợt bùng lên
Em dòng lệ bất giác chạy quanh
Nghĩ đến một điều em không rõ
Nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ
Đến một người đi giữa chiến tranh
Lại nghĩ tới anh.. . . . ..nghĩ tới anh..
(Chiều Trên Phá Tam Giang)
để cuối cùng đành nói một lời khuyên:
" Nếu em biết rằng, có những người đi đấu tranh cho đời
mang lời thề lên miền sơn khê
Từng đêm địa đầu hun hút gió sâu
Nếu em đã gặp mẹ già thương con khấn nguyện đêm rằm
Vợ yêu chồng đang áo lạnh từng đông
Thì duyên tình mình có nghĩa gì không ? "
(Tạ Từ Trong Đêm)
Những khúc hát này ngày xưa, những người cùng thế hệ thời ấy ai cũng có lần đã hát. Những tiếng hát đó không phải là những tiếng kèn hung hản thúc quân vào trận mạc, nhưng chính là những làn gió ngát hương trên từng bước quân hành của người lính chiến miền Nam. Nó không làm át đi phần nào tiếng súng nhưng có lẽ đã làm dịu bớt đi những vết thương, những khốn khổ, chia lìa của cả một thời ly loạn.
Tác giả những bài hát này, và cũng chính anh đã hát hay nhất những sáng tác của anh, không còn nữa. Anh đã vĩnh viễn ra đi ngày 13.05 vừa qua ở một nơi không phải là quê hương anh. Nhưng những lời ca khúc hát của anh vẫn còn mãi vang vọng tự quê nhà và khắp cả năm châu. Bởi vì ở đó vẫn còn những người lính và cả những ngưòi suốt một đời yêu lính. Cho dù, những người lính ngày xưa bây giờ đã là những nắm xương trong những nghĩa địa hoang tàn, hoặc là những thương binh khốn khổ đâu đó ở quê nhà, còn lại là những người lính già sống uất nghẹn ở những nơi nào đó thật xa xăm.
"Nhạc sĩ của Lính" là tên mà rất nhiều người miền Nam đã đặt cho anh. Bởi anh đã viết và hát trên 200 ca khúc, không phải chỉ về đời lính, về người tình của lính, mà còn ngợi ca người lính. Sự ngợi ca của anh không phải là những bản hùng ca rầm rộ tiếng quân hành, nhưng nó nhè nhẹ len lỏi vào tận cùng tâm thức, khua động những tình cảm rất thật, rất người. Nhạc của anh đã làm cho người ta hiểu và yêu lính hơn, và làm cho chính người lính thấy yêu đời lính của mình hơn. Những người lính với đầy đủ những bi hùng, nhưng cũng đầy ắp những lãng mạn, vị tha và nhân bản.
Sau mùa hè 1972, đơn vị tôi từ chiến trường Kontum được chuyển về dưỡng quân một tháng tại hậu cứ Sông Mao, Phan Thiết. Trong một đêm văn nghệ do tỉnh Bình Thuận tổ chức ủy lạo chiến sĩ, bất ngờ có sự tham gia của ca sĩ Nhật Trường nhân dịp anh từ Sài gòn về thăm quê (quê anh ở Phan Thiết). Lúc ấy anh còn trẻ, đẹp trai và hoạt bát. Anh ngồi chung bàn với tôi. Trong lúc tâm tình, khi nghe tôi nói là ngày mai sẽ về thăm vợ ở Ninh-Hòa, anh tròn mắt nhìn tôi rồi ghé vào tai tôi nói nhỏ, có một thời anh đã say mê một cô gái Ninh-Hòa. Sau đó anh lên sân khấu hát tặng tôi bài Mùa Đông Của Anh, và nhờ tôi chuyển đến cô gái Ninh-Hòa nào đó hai câu:
" ..Xưa hôn em một lần mà đau thương tràn lấp..
Anh yêu em một ngày rồi xa em trọn kiếp.."
Rất tiếc, cho đến khi tôi biết được cô gái Ninh- Hòa ấy, thì thế sự đã đổi thay.
Tôi không còn muốn nói với cô những điều anh gởi gấm.
Sau hơn 20 năm, nhìn lại anh trên sân khấu hải ngoại, tôi thấy chạnh lòng. Anh cười nhưng khuôn mặt anh khắc khổ. Nụ cười có vẻ héo hon. Có lẽ anh đã phải bỏ sân khấu khá lâu, nên đi tới đi lui không còn tự nhiên như ngày trước. Anh ốm hơn xưa và cằn cỗi đi nhiều. Tôi tội nghiệp cho Anh. Không biết những đau thương nào từ cuộc đổi đời đã làm anh đổi thay đến thế.. Hôm ấy, anh hát bài Biển Mặn, dù giọng hát không còn được như xưa, nhưng chưa bao giờ tôi thấy anh hát hay và cảm động như thế.
Rồi đến khi ca sĩ Thanh Lan bất ngờ tái ngộ. Hai người hát lại bài Chiều Trên Phá Tam Giang. Hai mái tóc đã ngã màu. Cả hai không còn là cô sinh viên và người lính trẻ ngày nào. Nhưng hôm đó họ đã hát với nhau rất tuyệt vời và diễn xuất đến xuất thần. Thanh Lan đã khóc sụt sùi. Có lẽ mọi người cũng không ngăn được dòng lệ cảm xúc.
(Dường như tôi đã đọc được ở đâu đó những dòng tương tự trên đây mà tôi có cùng chung cảm xúc.)
Nhật Trường Trần Thiện Thanh ! Xin cám ơn Anh, và vĩnh biệt Anh trong muôn vàn thương tiếc.

  

Phạm Tín An Ninh
      Vương Quốc Nauy
 
20 tháng 5 năm 2005