Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới mười ngàn cây số khứ hồi, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Lại nghe mấy người bạn tới trước hù, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe, thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.
Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi, nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh sát với súng ống dầy người, trông mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa bình, tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước mà tôi nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa Tulip, với vườn hoa lớn và đẹp nhất thế giới, những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng.Ở thủ đô Amsterdam, có một nơi dành cho những người nghiện đến nhận thuốc phiện miễn phí của chính phủ; nguyên cả một khu phố lớn dọc theo bờ sông thơ mộng lại là một khu dành cho mấy cô gái điếm đủ sắc dân. Đây là một cơ sở kinh doanh, có đóng thuế cho nhà nước, nên dược cảnh sát bảo vệ. Trước mỗi nhà là một cái tủ kiếng, bày hàng thật cho khách bốn phương chiêm ngưỡng. Hàng thật là một hay hai cô gái thoát y 90%, dĩ nhiên phải là đẹp, đứng như những pho tượng nữ thần Hy lạp. Chúng tôi ghé thăm gia đình mấy ngưòi bạn cùng quê, sống rải rác khắp nơi. May mà đất nước Hòa Lan này không rộng lắm, lái xe từ bắc xuống nam chỉ mất khoảng bốn tiếng đồng hồ. Dừng lại nhà một người bạn ở Bergen op Zoom, thành phố biển phía nam chúng tôi tha hồ ăn sò huyết và những con "hàu". Mấy loại này ở đây chỉ cần lội xuống biển mười phút là mang lên cả thùng nướng ngay tại chỗ. Hôm sau, chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng chúng tôi đến Pháp.
Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân. Tôi bắt gặp đâu đó những đứa trẻ trong Sans Famille của Hector Malo, những người đàn bà trong Les Misérables , và cả những bến tàu có cảnh tiễn đưa trong Oceano Nox của Victor Hugo. Chúng tôi ở trong khách sạn của một người Hà Nội, sang Pháp lập nghiệp từ hơn 50 năm trước. Khách sạn nằm trên con phố chính trong quận 13, nơi có đông ngưòi Việt Nam sinh sống.
Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Đại Tây Dương, gần thành phố Cannes nơi qui tụ những tài tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có quá nhiều phiền muộn này.
Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con gái của tôi đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ,, xem thử nơi đã cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố " lệnh hành quân". Chúng tôi không đi theo xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế. Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ "tuyến xuất phát", tôi mới biết là mình đã sai lầm khi xử dụng con đuờng tắt này. Vì chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người.
Đang mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt , vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở Việt nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm vô- lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một chập, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mớí phát hiện là sợi dây cu-roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ và đám con gái đang nằm trên bờ cỏ ruộng lúa mì, ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh " đóng quân tại vị trí " vì xe hư không biết khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.
Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa, thì nghe có tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó, càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi.Qua ánh đèn xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu:- Chắc là xe các anh bị hư ? Có cần tôi giúp điều gì không?
Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, tôi hiểu tiếng được tiếng mất, vừa trả lời vừa ra dấu:
- Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không chạy được nữa.- Các anh ở tỉnh nào tới ?- Chúng tôi từ Nauy sang, chứ không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ tính..Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng chỉ khoảng 10 phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chập sau anh lại mang vào bánh mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi người ngủ ngon.
Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.
Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con gái của tôi.- Các anh là người Việt Nam ? Anh ta vừa bưng tách cà phê vừa hỏi.- Nhưng làm sao anh biết được vì ở bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn , người Thái Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại anh.- Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt nam thật to treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn nho.
Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.
Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam tỏa ra thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng tên khắc đậm trên bia..
Khi đọc đến tên người mẹ:
JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER - tôi bỗng giựt mình.
Cái tên này tôi thấy quen lắm. Bà mất lúc tròn 50 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một người.
Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng ? - Không thể nào ! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.
Năm học lớp đệ nhất trường Võ Tánh, Nha Trang, dù học không giỏi nhưng tôi cũng cố gắng để được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên hạng bét, và cũng để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời làm gà trống nuôi con. Vậy mà tôi bị một lúc hai cái tai ương. Tự dưng có một nàng con gái, mà lại là con gái đẹp, yêu tôi. Đang ngụp lặn trong tình yêu thì ông Trời phạt tôi: phận nhà nghèo mà lại đèo bồng yêu người đẹp, nên giáng cho tôi một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Vì vậy khi bạn bè vác lều chỏng đi thi, thì tôi đang nằm bất động ở nhà thương tư của bác sĩ Thạch ở đường Trần Quí Cáp. Ba tháng sau, khi vừa xuất viện về tiếp tục điều trị tại nhà, tôi nhận được bức thư tạ từ. Người đẹp đi lấy chồng. Tôi bỏ thành phố Nha Trang, bây giờ với tôi là thành phố buồn, vào Sài gòn lang thang kiếm việc làm thuê để có tiền đi học tiếp. Nhưng rồi cũng chẳng có ai chịu thuê một thằng thư sinh nhà quê như tôi. Vừa buồn vừa không có tiền trả tiền cơm cho bà Cả Đọi, tôi đăng vào lính.
Khi chân ướt chân ráo vào Sài gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được tòa đại sứ Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các trường Tây Sài gòn, Đà lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách Tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó không phải là tên thật của cô.
Chỉ đi chơi với nhóm một vài lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn Alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn Alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai Alpha.Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài gòn, họ làm một buổi tiệc chia tay tôi. và lần này tổ chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm lớn trên Tân Định.Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc loại nhà giàu. Tôi nghĩ như thế.Tới hơn hai giờ sáng, tiệc mới tàn. Khi nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn tôi trên má.Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, tôi bất chợt nhớ đến nàng, mở xách tay ra tìm lại tấm ảnh. Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi: À toi, avec tout mon coeur. Phía dưới cô chỉ ghi là người có mái tóc Sylvie Vartan.Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình: Đúng là lãng mạn như Tây.
Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng 30 cây số, do một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng buôn súng.
Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là người thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do Thổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh sáng lập để thu hút di dân sau 1954.Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vã và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học , và khuôn mặt những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì? Vì giữa nàng với tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận, gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp và quí phái. Nàng quen với tôi , thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường nhất. Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư sinh. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội solo xuống núi biệt phái cho tiểu khu Lâm ĐồngĐoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu trên QL 14, từ Saigòn chạy lên Đàlạt, vừa bị đặc công giựt sập trong hai đêm trước.Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ khí nặng, nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yễm trợ hỏa lực. Phía duới khu đồn điền này là cây cầu Đại Ngà, cây cầu dài nhất vừa bị phá hoại.
Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân báo của đại đội tôi phối hợp cùng với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.
Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sài Gòn lên. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấy tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra. À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ? Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát ; cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng Tây mà anh chưa kịp hiểu.Cô nhìn tôi cười rạng rỡ :- Anh là anh Ninh, phải không ? Mấy năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie.- Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. -Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền -- Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chổ tôi chơi. Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:- Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.
Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên Đà Lạt , như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không biết là mình đang nói dối.
Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời chúng tôi dùng bửa cơm chiều với ông. Bửa cơm đầy đủ hương vị tây , mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bửa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng tỏa ánh vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng dưới ánh trăng , nghe từng nhịp đâp của trái tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe về một ước mơ của nàng : muốn có lần trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một bải cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ rộng mênh mông- Anh có thấy gì lạ không ?Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng cây bên kia bờ suối- Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert không ?- Lúc học Littérature Francais , anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động. Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.Nàng cất tiếng khe khẻ hát bài thơ Les feuilles mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu:Et la vie sépare ceux qui s'aimant
Tout doucement, sans faire de bruit
Et "le vent" effface sur la "plaine"
Les pas des amants désunis.
Tôi hỏi sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ lại mẹ và hai chị em nàng. Những người con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không anh ? mấy lần nàng hỏi tôi như thế.Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.
Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành quân TK Lâm Đồng xin gặp ông Tiểu Khu Trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc xe jeep của TK biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông Tiểu Khu trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội phó.
Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách sạn La Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cỡi ngựa ở sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya.
Ngày hôm sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thưởng thức cà phê Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm dưới dòng thác. Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.
Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại trường Domaine de Marie để gặp lại em nàng. Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt: Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em nữa. Hôn anh.
Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường. Tôi ngồi trên xe nhìn thẩn thờ vào khu trường. Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước cổng.
Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự bao giờ.Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một khoảng trống bao la.
Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.
Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của nàng: Jacqueline Cuvéro.May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà nàng yêu thích.Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais mon amour silensieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la vieTôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sàigon. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt Nam.Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đôi tôi nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong.
Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ: Jacqueline, màu vàng. Mấy thằng lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giã vờ: tại vì tao ái mộ bà vợ của Tổng Thống Kennedy.![]()
Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng tôi một bũa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra những dấu tích của nàng.
Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi vào khu nghĩa địa.
Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông Đà Lạt.
Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.
Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì thầm trong gió :
Et la chanson que tu me chantais
Toujours, toujours je l'entendrai. !(Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe
Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây)![]()
Vương Quốc Nauy, mùa hè 2004
Phạm Tín An Ninh
Thursday, June 7, 2012
TRỜI ĐẤT BAO LA
LÀM RỂ NINH HOÀ
(Viết để vinh danh những người vợ trung hậu Ninh Hòa)
Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc giòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét, có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu " Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường " mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài "đường trường xa".Khổ thì khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. Vì "nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng? .. ". Nhờ vậy trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối tình con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, thì thôi chớ tính chuyện vợ con làm gì cho nó vướng chân vướng cẳng. Hơn nữa, tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, nên làm gì có chuyện "chết trong mắt em". Vậy rồi trời xuôi đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quãng Ðức, Ban Mê Thuột rồi Bình định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống bãi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy lòng lâng lâng sung sướng vì không khí yên bình của thành phố biển, mà cũng vì tưởng mình đã được trở về với những "hang động tuổi thơ " của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi còn mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục "hát khúc quân hành ". Ðoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở Dục Mỹ. Nhưng tôi đã "ước tính tình hình" sai bét. Ðoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngã ba Ninh Hòa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn còn đang say ngủ. Ðại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước " thăm dân cho biết sự tình".Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nhìn tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện tình cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Hòa hơn một năm sau. Trường Trần Bình Trọng cũng vừa có một cô học trò bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa "Trăng Mường Luông ".Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Hòa, là tôi nhìn thấy có tôi trong đó :
Cái ông nhà thơ Quan Dương này làm thơ hay thiệt. Cứ như là giỡn chơi vậy mà buồn đến cháy gan cháy ruột.Hồi nhỏ tôi rất anh hùng
Một mình dám nhảy cái đùng xuống sông
Bơi nghiêng, bơi ngửa giữa dòng
Hiên ngang trấn giữ một vùng tuổi thơ
…………………………………………
Lớn lên trở chứng ngu khờ
Mắt em nào phải bến bờ sông sâu ?
Cớ sao chưa kịp lộn nhào
Ðành chịu chết đuối, thiệt đau đúng là..Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. Vì lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Ðã vậy đứng ở Ninh Hòa lúc nào nàng cũng nhìn thấy hòn núi vọng phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học trò Trần Bình Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một mình chống chọi với phong ba.Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận thì chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho "người tình bé nhỏ " ngày xưa. Tôi tự trách mình, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, thì biết đâu nàng chẳng tìm lại một "đấng cố nhân" nào đó - mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với lòng ngưỡng mộ - bây gìờ đã là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi tìm vùng đất hứa.Rồi nàng bỗng dưng trở thành con cò lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng - ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.Tôi còn nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quý Anh vì Anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, Anh làm tặng tôi một bài thơ khá dài và hay lắm. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. Vì vậy tôi không còn nhớ hết mà chỉ thuộc lòng mấy câu viết về nàng:Tám năm áo rách bao nhiêu lượt
Em vá chồng lên những nỗi niềm.
Từ thuở anh đi nhà tróc nóc
Con thơ đâu còn biết vui cười
. . . . . . . ……………………….
Cô gái Ninh Hòa, thương quá đỗi
Một mình chèo chống giữa phong baRa khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng còn mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, một đàn con thơ dại, giữa một xã hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay sở làm sao? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng.Có lẽ ông trời không phụ lòng nàng. Chuyến đi vội vã, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người tìm cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cõi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con cò trong một vùng tuyết lạnh mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng..Bây giờ những đứa con đã trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn quốc gia nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng chỉ còn có tôi, ngưới lính thất trận năm nào đã mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn giông bão năm nào dường như vẫn còn đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà tôi thì cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình . Và tôi còn nợ nàng, nợ Ninh Hòa. Mãnh đất hiền hòa đã cho tôi một người vợ chung tình, cùng tôi qua bao nhiêu cuộc biển dâu.![]()
Phạm Tín An Ninh
NHỮNG BÀI HÁT CỦA MỘT THỜI BINH LỬA
Từ giữa thập niên 60, chiến trường miền Nam bắt đầu sôi
động, hàng hàng lớp thư sinh phải từ giã mái trường, phố thị ,"xếp bút
nghiên theo việc kiếm cung". Người lính miền Nam lúc âý được thi ca nói
tới như là những chàng tuổi trẻ hiền lành, lãng mạn, đi hành quân như vui
thú với rừng núi sông hồ, mà hành trang lúc nào cũng kèm theo thơ túi rượu
bầu và hình ảnh một người tình nho nhỏ ở hậu phương:
"..Kẻ thù ta ơi, những đứa xâm
mình
Ăn muối đá và hăng say chiến
đấu
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân với rượu đế mang
theo
Mang trong đầu những ý nghĩ
trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách
nước.."
( NBS)
Những chàng lính 19, 20 thời ấy không phải là những
người hăng say chém giết, không hề muốn " xẻ dọc trường sơn" để "sinh bắc
tử nam", mà chỉ muốn anh em một nhà cùng sống trong hòa bình an lạc:
Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát
ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
(NBS)
Cũng từ thời gian đó, xuất hiện những bản nhạc của Trần
Thiện Thanh và tiếng hát của chính anh, ca sĩ Nhật Trường. Những bài hát
viết về lính, về tình yêu của lính. Những người lính lãng mạn hào hoa, và
những cuộc tình đẹp, dễ thương như mùa thu, như hoa tím trong rừng sim,
cho dù kết cuộc chỉ còn là những "chiếc khăn sô của người cô phụ còn lóng
lánh dấu ái ân và những dòng nuớc mắt" .
Ta thử hình dung những người lính ấy trong bài "Tình
Thư của Lính" :
" Từ khi anh
thôi học, và từ khi anh khoác áo treillis
Từ khi anh xa
nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây
Ngại chăng đêm
di hành và thường khi dừng bước giữa hoang vu
Một thằng ước
ao, để một thằng khát khao, còn mình thì nằm đếm sao. . ."
Người lính thuở ấy, dù nay đây mai dó, nhưng rất đỗi
chung tình và biết chấp nhận những chia lìa mất mát. Cho dù lúc nào "
ngày
anh đi sông hồ cũng in dáng em" và vẫn biết là:
"..nếu em không
là người yêu của lính
em sẽ nhớ ai
chủ nhật trời xanh
em sẽ nhớ ai
đêm sương lạnh lùng
và giữa chốn
muôn trùng ai viết tên em lên tay súng ?"
nhưng người lính lúc nào cũng lo sợ mình sẽ mang nỗi
buồn và điều bất hạnh đến cho người tình nhỏ, nên nhiều lúc đành phải lặng
lẽ chia tay: " biết trả lời sao, khi chưa nói yêu mà đã xa rồi..".."
sẽ
không trả lời đâu, khi anh muốn em đừng vướng u sầu.."
Cho dù biết "
tôi chỉ là người lính phong trần, thấy
hoa nhớ người yêu rất xa" (Hoa Trinh Nữ), "
trong bao lần quân hành, tôi
qua vùng khô cằn mồ hôi thành biển mặn trên môi " (Biển Mặn) hay " Anh vì
lửa khói quê hương, đường hun hút biên cương, một mình ngắm trăng suông..
Từng chiều rớt bên sông em có mơ gì không ? (Chân Trời Tím)
Và cho dù người tình của lính có sẵn lòng chấp nhận
thương đau:
".. Nếu anh
không về nữa, thì em xin chiếc khăn sô
Lỡ anh không về
nữa, hàng cây đêm sẽ đứng gục đầu
Và vì sao khuya
khép mắt sầu",
(Chân Trời Tím)
nhưng người lính đa tình vẫn luôn ưu tư cho người tình
nhỏ:
"..Giờ này
thành phố chợt bùng lên
Em dòng lệ bất
giác chạy quanh
Nghĩ đến một
điều em không rõ
Nghĩ đến một
điều em sợ không dám nghĩ
Đến một người
đi giữa chiến tranh
Lại nghĩ tới
anh.. . . . ..nghĩ tới anh..
(Chiều Trên Phá
Tam Giang)
để cuối cùng đành nói một lời khuyên:
" Nếu em biết
rằng, có những người đi đấu tranh cho đời
mang lời thề
lên miền sơn khê
Từng đêm địa
đầu hun hút gió sâu
Nếu em đã gặp
mẹ già thương con khấn nguyện đêm rằm
Vợ yêu chồng
đang áo lạnh từng đông
Thì duyên tình
mình có nghĩa gì không ? "
(Tạ Từ Trong
Đêm)
Những khúc hát này ngày xưa, những người cùng thế hệ
thời ấy ai cũng có lần đã hát. Những tiếng hát đó không phải là những
tiếng kèn hung hản thúc quân vào trận mạc, nhưng chính là những làn gió
ngát hương trên từng bước quân hành của người lính chiến miền Nam. Nó
không làm át đi phần nào tiếng súng nhưng có lẽ đã làm dịu bớt đi những
vết thương, những khốn khổ, chia lìa của cả một thời ly loạn.
Tác giả những bài hát này, và cũng chính anh đã hát hay
nhất những sáng tác của anh, không còn nữa. Anh đã vĩnh viễn ra đi ngày
13.05 vừa qua ở một nơi không phải là quê hương anh. Nhưng những lời ca
khúc hát của anh vẫn còn mãi vang vọng tự quê nhà và khắp cả năm châu. Bởi
vì ở đó vẫn còn những người lính và cả những ngưòi suốt một đời yêu lính.
Cho dù, những người lính ngày xưa bây giờ đã là những nắm xương trong
những nghĩa địa hoang tàn, hoặc là những thương binh khốn khổ đâu đó ở quê
nhà, còn lại là những người lính già sống uất nghẹn ở những nơi nào đó
thật xa xăm.
"Nhạc sĩ của Lính"
là tên mà rất nhiều người miền Nam đã đặt cho anh. Bởi anh đã viết và hát
trên 200 ca khúc, không phải chỉ về đời lính, về người tình của lính, mà
còn ngợi ca người lính. Sự ngợi ca của anh không phải là những bản hùng ca
rầm rộ tiếng quân hành, nhưng nó nhè nhẹ len lỏi vào tận cùng tâm thức,
khua động những tình cảm rất thật, rất người. Nhạc của anh đã làm cho
người ta hiểu và yêu lính hơn, và làm cho chính người lính thấy yêu đời
lính của mình hơn. Những người lính với đầy đủ những bi hùng, nhưng cũng
đầy ắp những lãng mạn, vị tha và nhân bản.
Sau mùa hè 1972, đơn vị tôi từ chiến trường Kontum được
chuyển về dưỡng quân một tháng tại hậu cứ Sông Mao, Phan Thiết. Trong một
đêm văn nghệ do tỉnh Bình Thuận tổ chức ủy lạo chiến sĩ, bất ngờ có sự
tham gia của ca sĩ Nhật Trường nhân dịp anh từ Sài gòn về thăm quê (quê
anh ở Phan Thiết). Lúc ấy anh còn trẻ, đẹp trai và hoạt bát. Anh ngồi
chung bàn với tôi. Trong lúc tâm tình, khi nghe tôi nói là ngày mai sẽ về
thăm vợ ở Ninh-Hòa, anh tròn mắt nhìn tôi rồi ghé vào tai tôi nói nhỏ, có
một thời anh đã say mê một cô gái Ninh-Hòa. Sau đó anh lên sân khấu hát
tặng tôi bài Mùa Đông Của Anh, và nhờ tôi chuyển đến cô gái Ninh-Hòa nào
đó hai câu:
" ..Xưa hôn em
một lần mà đau thương tràn lấp..
Anh yêu em một
ngày rồi xa em trọn kiếp.."
Rất tiếc, cho đến khi tôi biết được cô gái Ninh- Hòa ấy,
thì thế sự đã đổi thay.
Tôi không còn muốn nói với cô những điều anh gởi gấm.
Sau hơn 20 năm, nhìn lại anh trên sân khấu hải ngoại,
tôi thấy chạnh lòng. Anh cười nhưng khuôn mặt anh khắc khổ. Nụ cười có vẻ
héo hon. Có lẽ anh đã phải bỏ sân khấu khá lâu, nên đi tới đi lui không
còn tự nhiên như ngày trước. Anh ốm hơn xưa và cằn cỗi đi nhiều. Tôi tội
nghiệp cho Anh. Không biết những đau thương nào từ cuộc đổi đời đã làm anh
đổi thay đến thế.. Hôm ấy, anh hát bài Biển Mặn, dù giọng hát không còn
được như xưa, nhưng chưa bao giờ tôi thấy anh hát hay và cảm động như thế.
Rồi đến khi ca sĩ Thanh Lan bất ngờ tái ngộ. Hai người
hát lại bài Chiều Trên Phá Tam Giang. Hai mái tóc đã ngã màu. Cả hai không
còn là cô sinh viên và người lính trẻ ngày nào. Nhưng hôm đó họ đã hát với
nhau rất tuyệt vời và diễn xuất đến xuất thần. Thanh Lan đã khóc sụt sùi.
Có lẽ mọi người cũng không ngăn được dòng lệ cảm xúc.
(Dường như tôi đã đọc được ở đâu đó những dòng tương tự trên đây mà tôi có cùng chung cảm xúc.)
(Dường như tôi đã đọc được ở đâu đó những dòng tương tự trên đây mà tôi có cùng chung cảm xúc.)
Nhật Trường Trần Thiện Thanh ! Xin cám ơn Anh, và vĩnh
biệt Anh trong muôn vàn thương tiếc.
Phạm Tín
An Ninh
Vương Quốc Nauy
20 tháng 5 năm 2005
Vương Quốc Nauy
20 tháng 5 năm 2005
Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG
Ở cuối hai con đường
(*)
(Một câu chuyện hoàn toàn có
thật. Tác giả xin được kể lại nhân
dịp 30 năm từ ngày miền
Nam
thất thủ)
Phạm
Tín An Ninh
Những năm "cải
tạo" ở miền Bắc, tôi được
chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống
Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới
đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa
đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là
một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới
gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn
tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới
sườn đồi.
Sau đó, tôi
được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ.
Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và
cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh
miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám
cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp
một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ
thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập
trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo
dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái
láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi
chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến
tiếp nhận.
Vài phút sau,
một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng.
Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta
chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là
tay áo bằng kaki
Nam
Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua
lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên
ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù
chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: - Đây mới
đích thực là nợ máu đây, biết trả như
thế nào cho đủ?
Nhưng bất
ngờ, người cán bộ quản giáo đến
trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn
khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi
cũng bớt lo âu.
Bằng một
giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo
giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi "báo
cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh
đưa cho anh đội trưởng một tập
vở học trò, phát cho anh em mỗi người một
tờ giấy để làm bản "lý lịch trích
ngang".
Tôi đang
ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba
đời với bao nhiêu thứ "tội"
dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng
từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến
cả trăm lần, ngay cả những lần bị
đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh
quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào
thuộc Sư 23?
Tôi im lặng giây
lát rồi lên tiếng:
- Thưa cán
bộ, có tôi ạ.
- Anh ở trung
đoàn mấy.
- Trung Đoàn 44.
- Vậy anh có
tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum
đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo
đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn
cái tay áo đong đưa, lên:
- Tôi bị
mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em,
thấy tất cả mọi con mắt đều dồn
về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra
vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán
bộ ở đơn vị nào?
- Tôi ở trung
đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo
rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp
tục:
- Trận ấy
đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu
đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54
của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài,
nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán
bộ được trao trả? tôi hỏi.
- Tôi bị
thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi
phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y
viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn
sống và được trao trả tù binh đợt
cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó,
miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn,
trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào
một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây
được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao
động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh
quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em.
Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình
những chuyện vui buồn đời lính, thăm
hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố
gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm
điều gì sai phạm để không phải nghe mấy
ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:
- Tôi rất
đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô
lỗ. Tôi biết các anh đều là những người
có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ
huy.
Mùa đông, không
trồng trọt được, nên khẩu phần ăn
của một người tù chỉ có một miếng bánh
mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát
bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần
ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù
bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có,
nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng
không vững.
Một buổi
chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương
mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù
chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt
bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía
trước, thấp thoáng một người mang áo tơi
(loại áo mưa kết bằng lá cây) chạy lúp xúp
từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi
trời tối.
Đêm đó,
như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt
với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh
đội trưởng:
- Tôi để
một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ
ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh
kiết lỵ đang mất sức để các anh
bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng
để trên biết.
Bây giờ anh em
mới hiểu, người mà chiều nay, đặt
lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản
giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em
tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài,
một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà
đưa cả đội 50 người tù lên một
đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã
nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh
chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn
vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng
Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện
có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng
nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột
sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng
gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị
đi về", anh em tức khắc dấu hết
"tang vật" xuống một cái hố đã đào
sẵn.
Dường
như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi
được no -dù chỉ là no sắn-
Không biết
tối hôm ấy, trong giờ "giao ban", quản giáo
Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù
của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra
bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà
bảo nhỏ:
- Anh em làm
việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ
giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn
dài lắm.
Vào một
dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng
anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số
tiền lương vừa lãnh được, anh mua
mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em
ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều
với anh em:
- Lần bị
thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã
chết. Vết thương quá nặng, lại phải
nằm trong rừng rậm một mình, không có thức
ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng
nhất, tôi bất ngờ được một
đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh
băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình
săn sóc tôi như một người đồng ngũ.
Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi
máy bay tản thương đến đưa tôi về
bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống
được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị
lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương.
Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi
khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi
trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán
mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt
cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh
rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn
hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để
được đưa về quân y viện chữa
trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của
anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn
đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi
được máy bay tản thương đưa tôi về
quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải
nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm
sóc tận tình. Tất cả đã đối xử
với tôi như người đồng đội. Có
lần, một phái đoàn đến ủy lạo
thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho
tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương
vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh.
Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và
một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc.
Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân
tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn
chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi
lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là
người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm
mong chờ tôi trở về.
Anh cố
gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói
của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về
lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không?
- một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi
được trao trả, tôi phải vất hết
thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu
mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng
họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi.
Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi
được học tập hơn một tháng, làm
kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác
của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói
điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng
thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi
cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng
son của năm mươi người tù đội 4
trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu
tháng.
Một buổi
sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng
trại tù, một người đạp chiếc xe
đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe
đèo theo một cái rương bằng gỗ và một
túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh
em. Cả một đội năm mươi người
tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa
ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa
cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi
biến dạng trước cổng trại.
* * *
Chiếc
thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt
biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù
ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải
phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may
mắn được một chiếc tàu chuyên chở
dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên
đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai
ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ
vị thuyền trưởng đến anh thủy
thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn
sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để
được chuyển đến trại tị nạn
Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm
được nước mắt. Tất cả thủy
thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên
boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm
lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi
những ngày sống trong trại, chúng tôi được
thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên
có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng
tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi
đau của một người vừa mới bị anh
em một nhà hành hạ, đuổi xô đến
bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ
xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại
được những kẻ xa lạ không cùng ngôn
ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu
thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là
nơi tạm gởi phần đời còn lại của
mình.
Bốn
anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào,
được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày
gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng
khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc
tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ
đến một người không cùng chiến tuyến mà
còn có được tấm lòng. Sau lần bị
"hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa
Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc
chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai
năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân
hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi
quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp
còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này
trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về
kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm
chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại
được nhận vào một công ty lớn và sang làm
việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng
đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi
điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và
đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là
bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là
một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu
với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên
Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở
một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi
nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường,
mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH,
cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng
niềm nỡ, đùa cợt cho cô được tự
nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái
Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà
Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức,
rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại
Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và
quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và
một đứa con trai. Người chồng
trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành
một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà
Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn
Độ trở về, cô được bạn bè và
người thân cho biết là anh chồng đã cặp
một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô
đem việc này nói phải trái với chồng, lại
bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô
vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang
học tiếp chương trình Tiến sĩ tại
một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày
bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân
Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông
Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về
nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một
thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên
lạc được với anh Kenneth Hansen, để
được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia
đình một đảng viên cộng sản cao cấp,
bởi cô được du học ở nhiều
nước thuộc khối cộng sản trước đây,
nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth
Hansen cho biết bố của cô trước kia là
đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên
Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn
khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra
được một điều gì đó. Trở về
Việt Nam, ông không còn được nhà nước
Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất
mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau
một thời gian, được cấp quốc tịch
Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình,
đặc biệt là người cha già đang ốm
nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy
với cô.
Việc
cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ đến
anh quản giáo Nguyễn văn Thà thuở trước. Tôi
cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một
số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về
Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để
tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu
năm sống trong đám bùn lầy nước
đọng mà vẫn còn giữ sạch được
tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi
không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy
nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: "ông
Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng
năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù
cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn".
Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm
đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc
anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm
việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta
tìm hộ.
Một
tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết
là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà
trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị
phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào
Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng
không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo
địa phương đăng lời nhắn tin, trong
đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho
biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô
nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì
chỉ một ít người ở thành phố có báo
đọc.
Thời
gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con
cái, để kịp hội nhập vào đời sống
trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc
đến chuyện anh Thà.
Bỗng
một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện
thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng
hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt
độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi
ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì
phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc
ống nghe. Đầu giây bên kia là giọng một cô gái,
nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả,
nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô
cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với
đầy đủ họ và tên.
- Xin
lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.
- Dạ,
cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im
lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ
là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên
tiếng:
- Bác có
còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không
ạ?
- Ông Thà,
Nguyễn văn Thà, bác nhớ, nhưng cô là gì của ông
Thà, và sao lại ở Ba-Lan?
- Dạ,
ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một
đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ.
Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho
bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi
tốn tiền.
Tôi
gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và
em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng,
chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà,
kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng
niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo
cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính
quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân
chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết
những người được chính quyền Việt
Nam gởi sang lao động, đã không về nước,
trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không
tìm được việc làm chính thức. Hầu hết
làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành
ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp
bóc hoặc tống tiền chính những người đồng
hương, đồng cảnh. Số người
Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho
những chính quyền mới ở các nước Đông
Âu.
Hai
chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố
Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác,
mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm
được một ít, chưa kịp gởi về giúp
gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu
em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát
bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị
mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy
cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị
truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà
gọi điện thoại cho tôi.
- Bây
giờ cháu đang ở đâu? Tôi hỏi.
- Cháu
đang trốn ở nhà một người bạn,
nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết
phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá
thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu
bảo cháu trong trường hợp rất cần
thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu
bây giờ làm gì?
- Ông
bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến
mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ
nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn
ở lại đây để kiếm tiền gởi
về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác
ạ.
Tôi ghi
số điện thoại, địa chỉ người
bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang
bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong
một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi
nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew
Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới
đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi.
Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy
môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội
cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ
Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung
bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy
một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm
người vợ và hai đứa con, bay sang Tây
Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia
đình anh được chính phủ Nauy đặc
biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi
học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có
một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở
Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình
hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công
Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã
thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm
Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân
chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của
tôi, được mời về nước để
giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào
những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi
thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể
đủ thứ chuyện về xứ sở của anh,
về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan
bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc
nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời
vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với
gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan
của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm
sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui
mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi
chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở
phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh
chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp
được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói
chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động
trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia
đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói
với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng
rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về
chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ
năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa
con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất
nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi
giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết
lòng giúp tôi về việc này.
Anh
đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa
Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm
thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ
trại tù về.
Trước
khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một
đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu
cho hai cháu một số tiền để tạm sinh
sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố
hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi
trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh
chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ
tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn
một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai
chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được
cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai
cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì
lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà,
sẽ được tiếp tục theo học tại
một trường trung học.
><><><><><><><><
"Các
Anh thân quí,
Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh,
thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn
nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở
trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh
còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà
từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền
của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến
nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh
làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác:
"Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước
cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày
nay, cả thế giới đều lên án Mác, những
nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh
đuốc soi đường, bây giờ cũng đã
từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm
bức bình phong để che đậy những mục nát
ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với
tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều
tệ hại là những kẻ một thời theo Mác
đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của
Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa
được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù
tôi biết một người phải bỏ quê
hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay
cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà
tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may
ra còn tìm được một chút tương lai, giá
trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm
nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị
điều ra mặt trận phương Bắc, trong
thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua
biên giới. Nhờ thương tật, tôi được
bố trí một công tác lặt vặt ở hậu
cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên
về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính
bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát
rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn
ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt
giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về
nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống
được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba
Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê
lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có
làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà
nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi
nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối
đời một con người, tôi nghiệm rõ
được một điều: Chỉ có cái tình con người
với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi
với thời gian. Những chế độ này, chủ
nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những
đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta
được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút
bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn
khổ cả nhân gian..."
* * * * *
Không ngờ lá thư đầu tiên này
cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận
được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau
đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối,
anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh
được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ
chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt
hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ
đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và
sự thù hận giữa những người anh em cùng
một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao
giờ?
Phạm
Tín An Ninh
(Vương Quôc Na-Uy)
Monday, June 4, 2012
TOA THUỐC CHỐNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Tòa soạn Văn Nghệ Tuần báo vừa nhận được “toa thuốc thần kỳ” nhưng rất đơn giản sau đây của bác Ái Miêu (Sydney) gửi tặng, chúng tôi xin phổ biến để quý độc giả tùy nghi sử dụng:
-Thuốc chống tai biến (xin làm liền kẻo trễ)
1. Hạnh nhân: 10g
2. Chi tử: 10g
3. Ðào nhân: 10g
4. Nếp: 10 hột
5. Tiêu: 10 hột
6. Lòng trắng trứng gà: 1 quả.
*Cách làm: Tất cả đâm nhuyễn, trộn đều, tối đi ngủ trộn thêm lòng trắng trứng gà:
-Nam đắp lòng bàn chân trái
-Nữ đắp lòng bàn chân phải.
(lấy vải bó lại cho khỏi rớt).
Ðắp ngủ qua đêm, nếu ra màu xanh Cửu Long (xanh biển) là bệnh hết. Chú ý: Chỉ đắp một lần trong đời.
*Lưu ý:
-Nếu
tai biến giật méo miệng, lưỡi co rút không nói chuyện được, thì lấy kim
châm hai dái tai (dưới lỗ tai), nặn máu ra liền sẽ trở lại bình thường.
-Nếu bị tai biến xụi chân tay thì lấy kim châm mười đầu ngón tay, nặn máu ra liền và kịp thời sẽ trở lại bình thường.
Quý
độc giả nên truyền bản thuốc này cho người khác để làm phước. Ở Việt
Nam quý vị có thể đến mua tại tiệm thuốc Bắc: Hải Thượng Lãng Ông, Chợ
Lớn.
*Ðộc giả Ái Miêu (thân tặng)
Subscribe to:
Posts (Atom)