Thursday, December 15, 2011

NGƯỜI VỀ TỪ CHIẾN TRƯỜNG IRAQ

HUYỀN THOẠI . Việt Báo Thứ Sáu
*
Tác giả là cư dân San Jose và Huyền Thoại là bút hiệu mới của cô, thay thế bút hiệu Thịnh Hương, giải thưởng danh dự năm 2005. Bài viết mới của Huyền Thoại lần này là  chuyện tình thời chiến.
*
Buổi chiều tan sở Liên rủ tôi đi shopping vì ra xa lộ giờ này chỉ có nước dậm chân tại chỗ.  Tôi định nhận lời nhưng lại đổi ý, vì thật sự tôi cũng chẳng biết mình cần những gì mà đi mua sắm.  Hôm nay tôi cảm thấy bứt rứt, muốn về nhà mở email xem có thư của Tuân hay không.  Ba ngày nay không có email mà cũng chẳng có text messages của anh. Tôi quay quắt với những lo sợ âm ỉ trong lòng. Từ ngày Tuân sang Irag phục vụ với đơn vị quân y của mình tôi bỗng trở nên ngoan đạo và năng cầu nguyện hơn bao giờ.  Trước lúc lên giường đi ngủ, tôi cầu nguyện.  Sáng sớm ngủ dậy, tôi cầu nguyện.  Nhiều khi tôi cảm thấy thẹn cho mình , vì khi hạnh phúc, lúc an vui tôi đã không nghĩ đến God.  Nhưng khi hiểm nguy đe dọa thì lại sốt sắng chẳng ai bằng. 

Tôi đang chờ Tuân về để được làm cô dâu mặc áo dài đội khăn hoàng hậu.  Hạn kỳ một năm của anh đã hết nhưng anh tình nguyện ở lại đến khi có thêm y sĩ bổ sung.  Chiến trường mỗi lúc mỗi phức tạp và con số thương bình cứ tăng dần.  Khi quyết định ở lại, Tuân viết email cho tôi, bảo rằng " nếu em thấy được những gì anh thấy nới đây, anh tin chắc em sẽ thông cảm và tha thứ cho sự lỗi hẹn của anh.  Huynh đệ chi binh là điều mà anh cảm nhận một cách rất rõ ràng và sâu sắc trong những tháng vừa qua ở đây.  Nhưng xin em đừng lo, vì dầu sao anh cũng ở một nơi tương đối an toàn hơn những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu ngoài kia.  Bích ơi!  Anh muốn ở lại, muốn góp phần vào việc chữa lành các vết thưong và giảm đi những đau đớn họ đang phải gánh chịu.  Những người lính này trẻ lắm, Bích ạ!  Họ chọn con đường binh nghiệp này vì nhiều lý do, nhiều động lực khác nhau, nhưng điểm chung cũng là đem chính thân xác và mạng sống của mình phục vụ cho mảnh đất mà họ gọi là quê hương.  Họ đã chọn lựa con đường mình đi và can đảm thi hành bổn phận của họ.  Anh cũng đã chọn lựa và cám ơn em vô vàn đã không tìm cách cản ngăn anh.  Bây giờ, hơn bao giờ hết, anh mới thấy câu nói "Đằng sau một người đàn ông thành công là một người đàn bà giỏi"  không phải là một câu nói nịnh.  Mà đó là sự thật.  Cám ơn em, người chinh phụ đáng yêu của anh nói riêng, và của nước Mỹ nói chung".

Khi Tuân bảo anh muốn gia hạn thời gian phục vụ của mình trên cái chiến trường đầy máu lửa đó, tôi biết tôi lại thua Tuân một lần nữa.  Liên thường chê tôi, bảo tôi dại dột cho Tuân cái thế "thượng phong" trong cuộc tình của chúng tôi.  Theo Liên, đáng lẽ tôi phải xử dụng sắc đẹp và học thức của mình để lèo lái Tuân, bắt Tuân phải chiều theo ý muốn của tôi.  Như phần đông những người đàn bà biết mình đẹp, biết mình có địa vị và nghề nghiệp vững vàng.  Song tôi yêu Tuân ,vì Tuân là Tuân.  Là của lòng vị tha nhân ái.  Mối tình chúng tôi kết tụ từ những ngày hai đứa còn đang  học chung một mái trường, từ thuở vừa yêu vừa đánh vật với sách vở.  Khi biết chúng tôi có ý định làm đám cưới sau khi Tuân mãn hạn thực tập, mẹ tôi nói đùa với ba:  " Vậy là nhất hai gia đình này rồi!  Đau ốm đã có bác sĩ kê toa, dược sĩ hốt thuốc.  Cây nhà lá vườn, một xu teng cũng chẳng lọt kẽ tay!"

Rối khói lửa Irag lan tràn.  Cuộc chiến đó ở xa, rất xa.  Nhưng lại rất gần.  Vì ngày nào TV và báo chí cũng làm rầm rộ, cũng đưa lên những hình ảnh kinh hoàng.  Ban đầu là một khí thế hồ hởi.  Sau đó là chê bai, bắt bẻ.  Khói lửa mịt mù bên kia thì bên này cũng um xùm khẩu chiến.  Người đàn bà mang tên Cindy Sheehan giận dữ vì cho rằng con mình đã hi sinh cho một cuộc chiến vô lý.  Chàng Pat Tillman nhập ngũ, từ bỏ không chút luyến tiếc sự nghiệp thể thao vinh quang và những bản hợp đồng béo bở để rồi chết dưới lằn đạn oan nghiệt, gây nên bao nhiêu bẽ bàng và uất ức.  Tôi chơi vơi trong những tình cảm và khái niệm mâu thuẫn, lẫn lộn.  Tôi là một người đàn bà bình thường với những ước mơ đời thường.  Tôi cũng muốn có Tuân bên tôi mỗi ngày, muốn được vuốt ve, được yêu thương.  Tôi nhớ thân thể của Tuân.  Tôi nhớ những lúc hai đứa hòa trộn trong hạnh phúc tuyệt cùng của tình yêu.  Phải chăng tôi nên nổi giận, nên dọa nạt, nên dùng áp lực tình yêu để lôi anh về với cuộc sống êm đềm của chúng tôi? 

  Hôm Tuân nói ý định nhập ngũ của mình, cả gia đình anh xôn xao chống đối.  Lúc đó cũng có sự hiện diện của tôi.  Đó là một buổi chiều thứ bảy, Tuân về nhà sau buổi thực tập trong bệnh viện.   Ông Thịnh, cha của Tuân là một đại tá di tản vì vận nước nổi trôi.  Ông trầm ngâm sau khi nghe Tuân mở lời.  Ông nhìn con bằng một ánh mắt khó hiểu.  Ánh mắt sâu thẳm, thấp thoáng nét buồn .  Đôi mày ông hơi nhíu lại.  Mẹ Tuân buông tờ báo đang đọc ngơ ngác nhìn anh một lúc trước khi trở về thực tại để buông ra câu hỏi:
- Cài gì, con đi lính?  Con nói cái gì lạ vậy?

Tuân cúi đầu không dám nhìn mẹ. 
- Con muốn trở thành một bác sĩ quân y.

Bà Thịnh quay sang nhìn chồng, rồi nhìn tôi:
- Thế này là thế nào?  Nó có điên không hả ông, hả Bích?

Tôi kín đáo thở dài, chưa dám lên tiếng.  Tôi quay mặt nhìn ra khỏang trời chiều  xanh thẫm với những vệt nắng vàng sậm đang ngả sang mầu đỏ cam .  Tôi cũng đang chấn động như bà.  Tôi biết rất rõ những gì bà đang trải qua  vì tôi cũng đã sửng sốt và chao đảo hôm Tuân bảo cho tôi biết ý định của anh.  Thấy mọi người im lặng, bà chợt cao giọng:
- Ơ kìa, sao không ai nói gì hết vậy?  Hóa đá hết cả rồi hay sao?

Quay lại Tuân, bà hạ giọng:
- Tại sao con lại đi lính?  Có ai bắt con phải đi lính đâu?  Công lao bao nhiêu năm ăn học...

Bà ngưng nói vì những xúc động đã làm bà nghẹn lời.  Vẻ mặt bà tối lại.  Ông Thịnh ôm lấy cánh tay run rẩy của vợ, nói chậm rãi:
- Mình nên bình tĩnh, để con nó giải thích.

Tuân kín đáo thở dài, ngước nhìn mẹ:
- Con xin lỗi đã đường đột và làm ba mẹ thất vọng.  Nhưng con nghĩ con đã đủ trưởng thành để  quyết định cuộc sống riêng của mình.

Bà Thịnh giận dữ:
- Phải rồi, "anh" đã lớn, đã tự lo cho mình được.  Nhưng sao anh nông cạn đến thế?  Bao nhiêu năm đèn sách, bao nhiêu tiền vay của nợ mà bây giờ anh đem đổ sông đổ biển.  Người ta chỉ mong có ngày nay để được no cơm ấm aó...

Rồi bà bật khóc.  Khi bà gọi con cái là "anh" là "chị", là những lúc bà giận và thất vọng đến tận cùng.  Tuân bối rối nhìn cha cầu cứu.  Anh hy vọng ông hiểu anh.  Ông từng ở trong quân đội.  Ông tự hào với dĩ vãng của mình mặc dù ông không chấp nhận và vui sướng gì với đọan cuối cuộc đời binh nghiệp của ông.  Những tấm hình ông trân quí, những kỷ vật ông cất giữ chứng tỏ ông thương tiếc và lưu luyến một thời đã qua của mình.  Quay sang vợ, ông vỗ nhẹ vai bà và ôn tồn:
- Mình nên bình tĩnh lại.  Con nó đi lính mà mình làm như chuyện gì ghê gớm lắm không bằng.
 
Bà nhìn ông với ánh mắt đau đớn xen lẫn giận hờn:
- Với mình thì không ghê gớm, nhưng với tôi lại là chuyện động trời.  Bố con mình cứ thay nhau làm khổ tôi.  Ngày xưa mình đi lính, tôi đã đổ biết bao nhiêu nước mắt, tim tôi đã bao lần muốn ngừng đập.  Ngày nay ở đây, có ai bắt nó phải đi lính mà nó phải lăn mình vào chỗ chết?  Vậy ra nó mang cái nghiệp của mình?

Tuân đến quì dưới chân mẹ, vuốt ve đầu gối bà:
- Mẹ, con xin lỗi đã làm mẹ sợ hãi.  Nhưng mẹ ơi, sống chết là do số trời.  Con đi mấy năm rồi con lại trở về đời sống dân sự, lại hành nghề bác sĩ, lại sống cuộc sống bình thường như ý mẹ muốn.

Bà Thịnh hất tay Tuân ra khỏi nguời bà:
- Con có nghĩ kỹ chưa, Tuân?  Mẹ xem TV mỗi ngày, mẹ biết lắm.  Mẹ chán ghét chiến tranh lắm rồi.  Mẹ chỉ còn sống một ít năm nữa, con hãy để mẹ yên ổn.

Tuân im lặng một phút, như để cân nhắc lời nói rồi lên tiếng:
- Mẹ, nghề của con là làm vơi bớt nỗi đau của con người.  Những người ngoài mặt trận cần con hơn những người ở trong thành phố.  Con muốn làm một việc đáng làm, dù nhiều người sẽ nói là con ngu xuẩn, dại dột.  Có những người đang lăn mình vào chốn lửa đạn để đem lại an vui cho người khác thì con cũng muốn bù đắp một phần những mất mát, thua thiệt của họ.  Với lại, với cương vị của một y sĩ, con không phải trực tiếp đối diện với súng đạn.

Bà Thịnh ngắt lời Tuân:
- Ba con và con chỉ biết làm khổ mẹ! Chắc mẹ sẽ điên, sẽ chết mất, Tuân ạ!

Ông Thịnh nghĩ đã đến lúc mình phải lên tiếng:
- Mình à, sống chết là lẽ nhiệm mầu của trời đất.  Đâu phải ai đi lính cũng chết, cũng tàn phế?  Mình đã chẳng từng nói là con người ai cũng có số...

Bà Thịnh cắt ngang lời chồng:
- Thôi, mình đừng dùng những lời tôi nói để bắc cầu cho nó!  Tôi nói như vậy để an ủi người ta nên mình đừng hòng an ủi tôi bằng chính những lời tôi nói ra!

Ông Thịnh  vẫn ôm nhẹ vai vợ, quay sang bảo Tuân:
- Ba không có ý kiến trong việc chọn lựa của con.  Chỉ mong con không hối hận về quyết định của mình.  Những ngày ý nghĩa nhất của ba là những ngày ba nghĩ mình đang làm những việc mình phải làm và nên làm.   

Cuối cùng, Tuân vẫn giữ nguyên ý định.  Mặc dù mẹ vẫn vùng vằng.  Tôi chẳng muốn Tuân ra đi, vì tôi là một người đàn bà bình thường với những ước muốn bình thường.  Nhưng tôi yêu Tuân, và tôi thụ động với quyết định của chàng.  Dù sao, Tuân cũng thể hiện cho tôi một hình ảnh đáng yêu.  Một người sống bên ngoài thân xác mình với một tâm hồn cao hơn đời.  Tôi cũng tự trấn an mình với câu nói của mẹ Tuân và của mẹ tôi, "Sống chết là do số phận an bài".  Rồi tôi lại nhớ đến chuyện xảy ra cho ba người bạn của Tuân mới đây.  Họ cùng mgồi trên một chiếc xe.  Cùng một tai nạn.  Hai người kia chui ra khỏi xe không một vết bầm, không một trầy trụa.  Nhưng một người lại vĩnh viễn ra đi chẳng kịp nói lời từ biệt.    Tôi chỉ còn cầu mong số phận sẽ đưa Tuân về cho tôi từ cái chiến trường mịt mù gió cát và thăm thẳm xa đó.

Đang thất vọng vì vẫn chưa có email của Tuân thì điện thoại reo.  Nhìn ID caller, tôi biết mẹ Tuân gọi. 
- Con đây, thưa bác.
- Bích à, con ăn cơm chua?
- Dạ chưa.  Bác cần con chuyện gì không?
- Không, bác không cần gì cả, chỉ gọi sang hỏi xem mấy hôm nay con có tin tức gì của nó không?

 Tôi mỉm cười thú vị vì cái lối gọi âu yếm bà dành cho con trai.  Đang định trả lời thì computer chớp nhẹ và một email mới xuất hiện.  Email mà tôi đang mỏi mòn trông chờ.  Tôi vội bảo bà:
- Thưa bác, vừa có email của Tuân.  Bác cho con một phút, con xem anh ấy nói gì.

"Nàng chinh phụ yêu dấu của anh, hai hôm nay anh rất bận vì thương binh đến hơi nhiều.  Anh tiếc đã làm em lo lắng trông mong.  Song để chuộc lỗi, anh xin tặng em một món quà mà anh biết em sẽ vừa ý:  Đã có bác sĩ khác đến thay cho anh trong vài tuần nữa!  Kìa, anh thấy em đang mỉm cười mãn nguyện.  Anh yêu nụ cười rạng rỡ đó biết chừng nào.  Anh cám ơn thượng đế đã sinh ra em, đã cho anh đôi môi gợi cảm và hàm răng ngọc ngà của em.  Em biết không, anh đang tưởng tượng...Không còn bao lâu mữa, môi anh sẽ lại được mơn trớn đôi môi thơm và ngọt mềm đó.  Anh bảo thằng bạn sắp đến thay anh. " Lẹ lên, tao muốn sớm trở thành chú rể".  Nó bảo anh "Đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp phải đá mà quàng phải dây."  Rồi nó lại tròng thêm cái câu mà mình vẫn đùa với mấy đưá cháu con anh Vượng, " Từ từ em nào cũng có.  Nhăn nhó em có em không. "  Thằng này cũng có máu tếu trong người, hy vọng vì vậy mà những ngày nó sống ở đây sẽ bớt căng thẳng.  Nó cũng là dân Mỹ gốc Việt như mình em ạ.  Chỉ khác có một điều, là đã có vợ và một baby boy."

Không ngăn được niềm vui như nước vỡ bờ, tôi nói như reo :
- Bác ơi, Tuân sắp về .  Có người thay ảnh rồi. 

Tôi nghe tiếng thở phào bên kia đầu giây .  Rồi mẹ Tuân nói nhỏ:
- Nó còn ở bên đó ngày nào là bác còn lo ngày đó, con ạ!

Tôi cố trấn an bà, cũng như tự trấn an mình:
- Bác đừng lo.  Anh ấy đâu có phải ra ngoài mặt trận.
 
Mẹ Tuân đổi giọng, tươi tắn hơn:
- Kỳ này nó về, bác sẽ bảo nó đem hai bác về thăm quê hương một lần cho bác trối già.   Bác trai cứng lòng lắm , đi bao nhiêu năm mà chưa chịu về quê một lần nào.  Tuân nó về, nếu nó nói vào, thế nào bác trai cũng xiêu lòng.  À, bác mới nấu xong món bún chả .  Con sang ăn với hai bác.  Ăn mừng nhé.

Tôi reo lên:
- Chả Đồng Xuân bác nấu thì không ai sánh kịp.  Con sang liền.  Bác cho con mấy phút.

Ngồi vào xe , tôi gài seat belt trước khi cho xe nổ máy.  Sợi giây belt đã được Tuân gắn thêm một lớp đệm cho êm khoảng bờ vai gần cổ tôi.   Có lần, trong lúc cài giây belt cho tôi anh kề miệng sát tai tôi thì thầm: "Anh muốn làm sợi giây belt để luôn được ôm em vào sát  lòng anh."  Tôi  nhìn anh tình tứ, "Hôm nào anh chả ôm em".

Tuân giấu mặt vào cần cổ tôi, " Anh tham lắm.  Lúc nào cũng muốn ôm em".

Vậy mà hơn một năm đã trôi qua.  Tôi chợt nghe lòng rạo rực và rộn ràng nỗi mong chờ.  Tôi nhớ hơi thở, nhớ mùi thân thể của Tuân đến tái tê. 

Cuối cùng, Tuân đã trở về .  Anh về, nhưng không chạy đến ôm tôi vào lòng như tôi mường tượng.  Mà anh nằm đó, trên băng ca, giữa những chai lọ và giây nhựa lủng lẳng.  Nếu anh ra máy bay chậm mười giây...Nếu anh lìa đơn vị sớm  một ngày...Còn nhiều "nếu" và "nếu" mà tôi có thể viết mãi không ngừng.  Khi Tuân quyết định đi vào cuộc đời binh nghiệp, tôi và anh không mang một ảo tưởng.  Anh đã vẽ cho tôi biết trước những gì có thể sẽ xảy đến trong khoảng tương lai vô định của mình.  Anh đã cho tôi nghe một bài hát tiếng Việt có  những câu " Anh trở về có thể là hòm gỗ cài hoa.  Anh trở về trên chiếc băng ca, trên trực thăng sơn mầu tang giá...Anh trở về, viên đạn đồng đen, anh cho em để làm kỷ niệm. ..Anh trở về bại tướng cụt chân...Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân bên người yêu tật nguyền chai đá..."

Khi người ta vén chiếc mền cho tôi nhìn thân thể rách nát của Tuân , tôi chới với như rớt xuống vực thẳm từ trên đỉnh núi cao.  Tại sao những vết thương kia lại có thể xảy đến cho Tuân, cho cái thân thể mà những ngón tay tôi đã từng âu yếm vuốt ve?   Một phần da thịt anh đã vĩnh viễn ỡ lại trên cái phần đất xa lạ và hung hãn đó.   Tôi không có gương soi để nhìn những biến chuyển trên dung nhan mình lúc đó, nhưng tôi biết, vì tôi đọc được trên gương mặt của người y sĩ đìều trị, khi anh ta lặng lẽ  gật đầu và nói nhỏ bên tai tôi, " Tôi xin chia xẻ niềm đau của chị.  Nhưng anh ấy sẽ bình phục .  Chúng ta cần nhẩn nại ".  

Nhẫn nại, chẳng phải tôi đã từng nhẫn nại hay sao?  Và tôi phải tiếp tục cho đến bao giờ?  Trong lúc tôi còn đang quay quắt giữa những cảm xúc bềnh bồng của mình thì mẹ Tuân ngã xoài trên sàn nhà.   Ông Thịnh bất ngờ nên để vợ rơi xuống từ tay mình.  Tuân vẫn im lìm trong giấc ngủ người ta tiêm cho anh để không bị những cơn đau hành hạ.   

Những tuần lễ ủ dột rồi cũng dần trôi qua.  Từng ngày qua, mắt tôi đã quen dần  những vết thẹo trên mặt Tuân và chiếc chân chỉ còn một cục thịt ngay dưới phần xương chậu đã không còn làm tôi khiếp đảm như lần đầu.  Tôi mừng vì Tuân đã không phải nhìn thấy vẻ mặt thảng thốt của tôi hôm đó.  Tôi vào bệnh viện với anh mỗi buổi chiều, chia xẻ với anh những chuyện cỏn con hằng ngày của tôi.

Liên cũng đến thăm anh nhiều lần với tôi.  Một hôm nó hỏi:
- "Mày và Tuân vẫn tiến hành đám cưới?"

Tôi không giận Liên vì cái câu hỏi mang hơi hướm phản ngược.   Vì chúng tôi thân nhau đã lâu và hiểu nhau tường tận.  Mẹ Tuân cũng đã có lần thăm dò như vậy vào một hôm bà ngồi với tôi trong xe trên đường về từ bệnh viện:
-  " Bích ạ, Tuân nó như thế, con và nó có quyết định gì hay chưa?" 

Tôi bảo bà:
 -"Chúng con chưa tính gì cả.  Phải chờ anh ấy lành mạnh hẳn đã, thưa bác". 

Bà sụt sùi:
-  "  Bác sẽ không trách con nếu con..."

Rồi bà im lặng, chắc không biết phải nói với tôi thế nào cho xuôi.  Tôi hỏi bà:
- " Bác nghĩ con sẽ từ hôn vì Tuân bây giờ tàn phế?". 

Bà nấc lên,  khóc không thành tiếng trong tiếng thở dài kín đáo của tôi.

Tôi bảo Liên:    
- Người không muốn có đám cưới nữa là Tuân, không phải là tao.

Liên quay sang nhìn tôi dò hỏi.  Tôi kể cho nó nghe buổi chiều tôi đẩy xe lăn cho Tuân trong công viên bệnh viện.   Sau những phút tư lự, anh bảo anh muốn huỷ bỏ hôn lễ để tôi được sống cuộc sống bình thường với một người chồng lành lặn .  Anh nghĩ anh không thể đem đến cho tôi hay bất cứ một người đàn bà nào một cuộc sống tiện nghi, dễ dàng.  Anh yêu tôi quá nhiều để ràng buộc đời tôi vào chiếc xe lăn của chồng mình. 

Tôi biết Tuân không nghĩ là tôi đang đến với anh vì tôi vẫn yêu anh.  Anh nghĩ tôi đang thương hại anh, và bản chất anh không cho phép anh nhận những tình cảm ép buộc.  Tôi bảo Tuân khi anh nhập ngũ, tôi đã chấp nhận một tương lai bất trắc.  Tôi biết những gì sẽ chờ đợi tôi với quyết định của anh.  Tôi không thương hại anh.  Nếu có chăng, thì đó là sự thương cảm.  Mà thương cảm thì khác với thương hại nhiều lắm, ít ra là trong định nghĩa của riêng tôi.   Tuân không có vẻ tin tưởng vào những lời  biện hộ của tôi.  Và tôi không trách anh.   Với anh, tôi là một người đàn bà với những ước muốn bình thường.  Nhưng tôi yêu Tuân vì cái tâm hồn rộng lớn hơn đời đó của anh.  Tôi cố gắng thuyết phục Tuân, rằng tôi không cần nhiều tiền để sống, mà tôi cần anh, cần một người cho tôi niềm tin vào sự thiện mỹ.  Mà nào phải anh hoàn toàn tàn phế?  Khối óc anh vẫn còn minh mẫn.  Anh vẫn có thể đem lại hạnh phúc cho tôi.  Khoa học ngày nay đã có thể lắp cho anh chiếc chân giả hoàn hảo.  Và họ đã đem lại khuôn mặt mà anh tưởng đã không còn toàn vẹn.  Thì tại sao tôi không thể tiếp tục đi cạnh cho đến lúc nào đời còn cho phép và trái tim chúng tôi vẫn còn rộn ràng một nhịp đập của yêu thương?  Vẫn biết đời sống là đổi thay, tình yêu không là miên viễn.  Bao nhiêu đôi vợ chồng chia ly nhau dù xác thân họ vẫn còn lành lặn nhưng tâm hồn họ đổ vỡ?   Nếu một Dana xinh đẹp và tài năng đã không lìa xa Christopher Reeves trong những năm dài chàng dán mình trên giường và di chuyển bằng  chiếc xe lăn, thì tại sao Tuân không cho phép tôi chứng minh tình yêu của tôi với anh?   Chiến tranh đã cho Tuân một cơ may để sống còn, thì tôi cũng xin anh cho tôi một nửa cơ may với tình yêu của tôi.  Sự chung thủy của tôi cũng cần một cơ may.  Đã đến lúc tôi cần chứng minh cho Tuân thấy đôi khi anh không thuyết phục được tôi một cách dễ dàng.

Chiều hôm đó Tuân đã khóc trên mái tóc tôi trong ngực anh.

GIÒNG ĐỜI...VÀ HỒI ÂM GIÒNG ĐỜI...

Đầu tháng 9-96, báo Ngày Nay ở Houston có đăng một lá thư, tác giả là một người đàn bà ký tên Nga (Sàigòn) gửi cho người yêu cũ Duy, tức Đại Tá Không Quân Đặng Duy Lạc, người đã viết đoản văn "Giòng Đời" trên Đặc san Ngàn Sao của Hội Không Quân Houston, số mùa Hè 92 với bút danh Duy Lạc.

"Giòng Đời" là một bài văn hồi tưởng về cuộc tình lỡ của tác giả trong thời niên thiếu. Đó là mối tình đầu, như rất nhiều mối tình đầu dang dở khác, ở cái thời đại mà tình yêu trai gái coi như trái cấm bởi vòng rào luân lý, và quan niệm tương giao nam nữ khắt khe của xã hội đương thời. Biết bao mối tình trong sáng, ngây thơ, chất phác, như những đóa hoa yêu hoa lệ nở rụt rè, rồi tan vỡ, để lại trong văn chương nhiều chuyện tình đẫm lệ, dư âm còn mãi đến bây giờ.

Trong phần giới thiệu, Ngày Nay viết: "
... Tác giả (Duy Lạc) kể lại mối tình đầu của mình vào thời niên thiếu, lúc cắp sách đến trường huyện với một người con gái tên Nga học cùng lớp. Lúc đó, vào dịp toàn dân kháng Pháp, 1945. Thời thế sau đó đổi thay, ông Duy Lạc vào Nam, rồi trở thành một Sĩ quan Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Còn cô Nga trở thành một người lính của phía bên kia, vượt Trường Sơn vào Nam .
Chuyện không ngờ là tờ Ngàn Sao lọt được về Sàigòn, và cô Nga ngày xưa được đọc bài "Giòng Đời" và sau đó, viết một bài chuyển ra ngoài với tên "Hồi Âm Giòng Đời"... Đây là một bức thư tâm tình riêng tư giữa hai người bạn lòng, nhưng tình tiết ghi lại một giai đoạn phân ly nghiệt ngã của đất nước..."

Bài "Hồi Âm Giòng Đời" đăng trên Ngày Nay đã gây một xôn xao dư luận, nhất là trong dư luận Không Quân. Ở một vài nơi, có những báo khác đăng lại. Đây là chuyện tình cảm động của thế hệ chúng ta, với đầy đủ tính cách bi thương, lãng mạn, chung thủy và đằm thắm biết bao, trong bối cảnh đau thương của đất nước, với cuộc phân tranh đối đầu chủ nghĩa, huynh đệ tương tàn.

Lý Tưởng đăng lại bài văn "Hồi Âm Giòng Đời", vì thứ nhất, ngoài tính chất bi thảm của một câu chuyện đầy bi thảm, còn vì cái đoạn kết bất ngờ và đau xót là Đại Tá Đặng Duy Lạc đã chết đường đột, ít ngày sau khi bài báo được phổ biến. Có thể chăng, lá thư tình gởi muộn đã làm anh rúng động và cảm xúc, vì ăn năn, hờn trách mình ngày xưa đã rụt rè, yêu không dám ngỏ và đã hiểu lầm, hóa nên cuộc tình thành chia biệt 40 năm...?

Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều... (Kiều)

Phải chăng chính cái tâm "quán tưởng" theo kinh Phật mà Nguyễn Du đề cập đến rất nhiều lần trong truyện Kiều, đã khiến con người nòi tình nghệ sĩ Đặng Duy Lạc tưởng tượng thêm ra những tình tiết đẹp đẽ cho mối duyên dang dở, để càng nặng lòng tiếc nuối, âu sầu, đắm đuối mình trong niềm ai oán với trò chơi nghiệt ngã của định mệnh? Anh khổ dau, dằn vặt bởi giòng chữ bùi ngùi thương tội "Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt..." khiến "Anh Duy thân mến" của Nga đã bơi ngược giòng đời, day dứt niềm thương, đem xuống tuyền đài mối tình đằng đẳng chưa tan.

Thứ nữa, "Hồi Âm Giòng Đời" của Nga Sàigòn có một giá trị văn chương cao vượt trên "Giòng Đời" của Duy Lạc khó mà phủ nhận.. Người nữ đó đã sống hết ngả truân chuyên, trôi cuốn theo giòng cuồng lưu vận nước, vô độ thảm thương hơn thân phận Thúy Kiều, khổ đau và tủi nhục trên cả Lara trong "Dr. Jivago", vượt xa cơn khốn khó của Catherine Barkley trong "A Farawell To Arms". Những nhân vật nữ đa truân của văn chương nhân loại. Người đàn bà tên Nga đã cho đi ở lứa tuổi thanh xuân đẹp đẽ đó, cả cuộc đời nàng vì lý tưởng thiêng liêng dành cho đất nước, thủy chung ôm giữ mối tình đầu câm lặng cùng niềm u oán... Để bốn chục năm sau, bàng hoàng sống lại nguyên tròn cảm giác bồi hồi xưa cũ, nửa đêm ngồi viết lá thư dài, gửi "Anh Duy dấu yêu" những lời nồng nàng tha thiết, bây giờ mới ngỏ... Để tim người tình năm xưa quặn thắt và đau buốt nhức, tay cầm tờ thư cũng run lên, như trước đây, bên trời xa mù tắp, Nga cũng run lên "còn hơn bị B-52 trải thảm", khi đọc "Giòng Đời" trên giai phẩm Ngàn Sao.
Thiên tình sử đã được viết ra bằng những giòng chữ đầm đìa ngấn lệ, văn chương tới độ chân thành, cảm động, khiến hoe rưng người đọc. Thêm vào đó, "Hồi Âm Giòng Đời" còn là một tác phẩm sâu sắc, tát thẳng vào mặt chế độ với những giòng chữ viết ra từ một người theo cách mạng, nói về thực chất của cái gọi là "nhà nước", trên phương diện thông tin chỉ thuần mục đích tuyên truyền "nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích", về tệ trạng tham nhũng hối mại
"chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền.v.v... thì cái gì to như con voi cũng qua lọt", và thú nhận lầm lỡ đi theo Việt cộng chỉ là do "định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!"...Em tập kết vì ngỡ mình sẽ đến được một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay vì bị huyền hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn có cảnh người bốc lột người...."

Đó là tâm trang não nề của
"người đàn bà góa bụa mái tóc đã bắt đầu điểm sương ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất.." tủi buồn ngậm giọt thương thân, nhớ lại mối tình thơ ngây không dám ngỏ và thổn thức hồi niệm cuộc chia ly định mệnh, khiến cho đời nàng giông bão "Nhiều đêm em đã khóc vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều..." Nhớ đến bóng hình xưa thuở thanh xuân đèn sách học trò và giấc mơ lãng mạn "Có lần nào anh say xưa oanh kích, mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọ mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy?"
"Hồi Âm Giòng Đời" nói lên đầy đủ cái thảm kịch của thế hệ chúng ta, của phần số đau thương bất hạnh dân tộc ta gánh chịu. Lý Tưởng trân trọng mời bạn đọc theo dõi và cảm xúc với từng giòng chữ phô diễn chân thành tâm trạng người viết, để hiểu tại sao cái khổ đau ray rứt đã khiến ông Đại Tá phi công khu trục Đặng Duy Lạc không gượng nổi, phải từ giã anh em, từ giã bạn bè để ra đi mang theo tình yêu thánh hóa sang bên kia thế giới... (Đào Vũ Anh Hùng)


 


Một chuyện tình hai chiến tuyến:

GIÒNG ĐỜI...
Duy Lạc.
 
Tôi sinh ra vào thế hệ của thập niên 30. Thế hệ của chúng tôi chịu nhiều xáo trộn điên đảo nhất trong giòng lịch sử 60 năm của dân tộc (1930-1990). Chúng tôi may mắn là nhân chứng của nhiều sự hưng vong của bao chế độ và cuối cùng được nhìn tận mắt sự sụp đổ ngoạn mục của chế độ Cộng sản bạo ngược khắp thế giới. Đó cũng là một niềm an ủi cuối đời cho thế hệ chúng tôi, những người chống cộng sản phải bỏ nước ra đi lang thang, bơ vơ, chịu nhiều bất hạnh, mang nhiều nổi đau buồn trên đất khách.

Ngày xưa từ tuổi nhi đồng qua thời niên thiếu, chúng tôi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luân lý đạo đức Khổng Mạnh qua các tập "Luân Lý Giáo Khoa Thư" ở nhà trường. Trong xã hội lúc bấy giờ, một thời văn chương lãng mạn của các nhà thơ: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Hàng Mạc Tử, Chế Lan Viên.v.v... và nhóm chủ trương Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh đã mang lại cho chúng tôi một ít mơ mộng về tình yêu
(Hồn Bướm Mơ Tiên), hay ý thức mơ hồ về các hoạt động cách mạng (Đôi Bạn). Sau đó từ năm 1935-1945, dòng nhạc tiền chiến trữ tình và lòng yêu nước của Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Tô Vũ, Đặng Thế Phong.v.v... đã thật sự thấm nhập tâm hồn tuổi trẻ vừa lãng mạn vừa khơi động tình yêu tổ quốc của tuổi thanh niên. Kế đến thế chiến thứ hai vào giai đoạn chót bộc phát dữ dội. Bom đạn của chiến tranh bắt đầu tàn phá quê hương. Nương theo sự thất trận của Nhật, nhiều phong trào yêu nước chống Pháp nổi dậy, cuối cùng đi đến ngày 19-8-1945, ngày toàn quốc khởi nghĩa mà bọn Việt Minh Cộng sản quỷ quyệt cướp lấy công đầu. Và cũng từ hoàn cảnh đó, đám thanh niên thế hệ chúng tôi một số vào rừng, vào bưng, vào chiến khu để theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc. Một số khác vì còn trẻ tuổi, phải bỏ thành phố tản mác về vùng quê để tạm lánh cư.

Cũng như mọi gia đình khác, cha mẹ chúng tôi vội vã bỏ hết gia sản chạy về vùng quê miền Trung. Từ đó đời tôi bắt đầu một khúc quanh: cơ cực cũng lắm, hạnh phúc cũng nhiều, chạy dài suốt một thời niên thiếu. Tôi dần dần yêu thích cảnh sống đồng quê. Say sưa với núi cao, biển rộng, rừng thông, đồi cát, ruộng mía, nương khoai với những hình ảnh của đình chùa, miếu mão. Tôi yêu thương làng tôi qua lũy tre xanh. Con đường nho nhỏ thông reo. Ngôi đình cổ kính nằm bên chân đồi. Tôi mê nhất những buổi trưa hè ngồi nghe tiếng thông vi vu, réo rắt một điệu nhạc buồn như tiếng sáo diều từ lưng đồi vọng lại.

Tuổi thơ của tôi thấm đậm tình quê hương từ những ngày tháng êm đềm thơ dại đó.

Những năm đầu kháng chiến, gia đình tôi chưa đến nỗi sa sút. Tôi được đi học tại trường Trung học cấp huyện, cất ngay trong làng. Ở miệt thôn quê thời kháng chiến, sự học hành bị gián đoạn nên học sinh tuy ngồi chung lớp nhưng tuổi tác chênh lệch nhau. Trong lớp "Đệ nhất niên" của tôi có độ mươi cô nữ sinh. Các cô thuộc người làng hoặc từ những làng kế cận đến học. Phần nhiều nữ sinh thuộc gia đình giàu có trong đám hương mục ngày xưa như Chánh Tổng, Xã Trưởng, Hương Lý, Hương Hộ.v.v... Các cô tuy là gái quê nhưng trông cũng xinh đẹp lượt là lắm. Tôi thời đó học hành dốt nát, chỉ thích lêu lỏng ngoài đường. Chuyện nhà trốn tránh, chuyện bạn bè thì mau mắn. Tôi lang thang suốt xóm trên làng dưới, tập đàn ca với đám nữ sinh cùng lớp, ít khi có mặt ở nhà.. Công việc nặng nhọc trong gia đình tôi giao cho chú em kế gánh vác. Mẹ già nhiều lúc mắng mỏ rầy la, tôi vẫn trơ mặt thịt. Đã vậy tôi còn tơ tưởng yêu đương. Tôi yêu tha thiết một cô em tên Nga cùng lớp. Em ngồi dãy bàn trước mặt. Tôi còn nhớ chiếc áo chemise lụa mỏng và chiếc quần lãnh đen của em. Em có đôi mắt nhung huyền sâu thẳm như đáy hồ thu mà tôi tự nguyện chết đuối trong đó những lần em quay lại nhìn tôi cầu cứu. Đôi môi em đỏ hồng gợi cảm. Những lúc em ban phát cho tôi một nụ cười cám ơn khi tôi cho cóp bi bài toán là những lần tim tôi như ngừng đập. Em thường liếc xéo tôi mỗi khi tôi trêu chọc. Cái nguýt dài, con mắt có đuôi, kèm theo một nụ cười mỉm của cô gái dậy thì, có lúc là một "message" ưng chịu kín đáo của thời đó.

Thật tình lúc bấy giờ tôi không đoán được Nga có cảm tình gì với tôi chưa. Nhưng riêng tôi, tôi đã mê tít nàng. Cứ mỗi ngày cô em nghỉ học là mỗi ngày tôi thẩn thờ nhớ nhung. Tôi tương tư nàng như Nguyễn Bính tương tư "Cô hàng xóm"

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn...


Tuy yêu thương mê mẩn như thế, tôi chưa dám nói một lời yêu thương cùng nàng. Hồi đó tôi đen đúa xấu trai. Tóc chải bảy ba có thêm một chút tango ổ quạ ngay trước trán
(thời trang 1945). Tôi gầy đét và cao lêu nghiêu như cây sậy. Thật tình nhìn kỹ tôi chả giống con giáp nào! Tôi chỉ được tiếng "người Sàigòn" và một chút tài mọn về đàn ca hát xướng. Vì vậy, tôi chủ quan nghĩ rằng em đã cảm tình với tôi. Một hôm vào dịp nhà trường tổ chức đi cắm trại qua đêm ở một rừng dừa ven biển. Dĩ nhiên tối hôm ấy có đốt lửa trại và thi đua văn nghệ, giữa mấy trăm học sinh cùng trường. Tôi táo bạo ghi tên tham dự, cốt để chứng tỏ với Nga về khả năng văn nghệ của mình.. Đêm hôm đó, trước đám đông đảo học sinh, tôi đơn ca bản nhạc "Nhớ Chiến Khu", một bài ca tủ của tôi, "Còn đâu trong chiến khu trên rừng chiều. Bên đèo tiếng suối reo, ngàn thông réo..."

Tôi đang mơ màng vừa ca vừa diễn xuất bộ mặt sầu sầu của anh Vệ quốc Quân nhớ nhà, nào ngờ đến đoạn cao nhất của bài hát, một phần vì khớp, một phần vì nhìn thấy cô nàng đang theo dõi mình, tự nhiên tôi té giọng kim, dứt đoạn, rồi ngừng ngang nửa chừng. Tôi đúng như trời trồng giữa tiếng vỗ tay la ó của đám học sinh. Tôi xấu hổ, tay chân thừa thải, mặt đỏ bừng chỉ muốn độn thổ cho xong. Tội nghiệp Nga, nàng cúi đầu thương hại cho tôi.
Rồi có một lần, chuyện phải đến đã đến, Nga ngỏ lời mời tôi đến nhà nàng chơi vào chiều thứ bảy. Tôi sung sướng nhận lời. Dịp này nhất định tôi sẽ bộc lộ tâm sự với nàng bằng một lá thư. Mấy ngày liền tôi ngồi nắn nót viết bức thư tình đầu tiên. Tôi còn nhớ rõ bức thư viết dài và hay lắm. Tôi diễn tả mối tình say đắm của mình. Văn chương lãng mạn và ướt át vô cùng. Trong bức thư tôi còn làm dáng về vốn Pháp văn của mình bằng hai câu bất hủ "L'homme sans amour comme La Terre sans Lumière" mà tôi thuổng được ở mấy bức thư tình của bà chị tôi. Chiều hôm ấy, tôi băng mấy cánh rừng dương để đến nhà nàng. Nhà Nga xinh xắn bao quanh bởi một vườn cau và một hàng rào bông bụp tím nhạt. Vườn có nhiều hoa và cây ăn trái. Tôi dạo chơi thơ thẩn trong vườn cùng nàng suốt buổi tối. Nàng bóc bưởi mời tôi ăn. Tôi trèo cây hái khế tặng nàng. Cứ như thế mãi cho đến khi trăng treo đầu ngọn cau và hoa bưởi bắt đầu tỏa hương thơm ngát, tôi mới từ giã nàng. Trước khi về tôi dúi vội bức thư vào tay nàng. Nàng ngập ngừng e thẹn nhận lấy thư tôi.

Sau ngày trao bức thư tình, tôi cảm thấy yêu đời, mơ mộng nhiều hơn. Và trong khi tôi nao nức đợi chờ hồi âm, thì hỡi ơi! Hai câu Pháp văn bất hủ tôi viết cho nàng được loan truyền khắp nơi nhất là trong đám nữ sinh. Mấy bà chị họ, mỗi lần gặp tôi đều tủm tỉm cười, làm tôi xấu hổ vô cùng. Tôi loáng thoáng đoán rằng tôi đã lầm và quá chủ quan, chớ nàng không hề yêu thương hay tình cảm gì với tôi. Nàng đã đem bức thư của tôi bêu rếu để làm trò cười. Từ đó tôi không nhìn nàng. Tôi đau khổ hận đời, hận nàng, và trốn học luôn...

Cho đến một ngày trước khi xuống tàu bỏ trốn vào Nam, vì vô tình hay cố ý, Nga chận tôi trên con đường làng vắng vẻ, gương mặt xanh xao, ánh mắt buồn buồn. Nàng khóc thật nhiều và giải thích với tôi rằng nàng đã yêu tôi. Chuyện bức thư là lỗi bất cẩn của nàng
(Nga cho người bạn gái mượn quyển sách trong đó có dấu bức thư). Nàng trách tôi tại sao bỏ học và trốn tránh không nhìn mặt nàng. Lần đầu tiên tôi run run cầm tay nàng, nhìn sâu vào đôi mắt lệ nhạt nhòa, thổn thức không nói một lời, bởi vì ngày tôi nhận được hạnh phúc tình yêu đầu đời và cũng là ngày tôi xót xa chia tay mối tình học trò ngắn ngủi đó. Ngày hôm đó, tôi đau đớn vĩnh biệt Nga mà chính nàng không hề hay biết.

Con thuyền đưa tôi vào Nam chập chùng giông bão. Giông bão xô dạt con thuyền. Giông bão ngay trong lòng tôi...

Tôi có người em kế, cùng trạc tuổi. Chúng tôi là hai thái cực. Chú Lâm hiền hòa thích sống trong gia đình. Tôi mê cuộc đời hải hồ lang bạt. Lớn lên, hai anh em cùng vào quân đội. Tôi đi lính Không Quân đồn trú tại Pleiku.. Chú đi sĩ quan Thủ Đức đóng đồn ở Daksut. Những ngày cao nguyên sôi động, nhiều lần từ trời cao, tôi xót xa nhìn chú bị vây hãm dưới đồn. Anh em tuy đóng quân cùng một vùng nhưng chả bao giờ gặp nhau. Thỉnh thoảng hành quân ngang đồn, tôi bay thấp để chào chú, hoặc liên lạc FM để thăm hỏi sức khỏe và nhắn tin nhà, thế thôi. Vậy mà chú Lâm vẫn vui vẻ sống cuộc đời gian khổ bộ binh. Mãi đến ngày bỏ nước ra đi, chú ra đi một mình không kịp đón gia đình vợ con. Những năm tháng xa quê hương, chú Lâm vẫn sống cảnh đơn lẻ ở một tiểu bang xa lắc xa lơ. Nhưng mấy năm gần đây, chắc có lẽ chịu hết nổi cảnh "Đồn Lẻ Chiều Xuân" chú đã âm thầm bước thêm bước nữa để nếm mùi "một cảnh hai quê". Thật tội nghiệp!

Hôm Tết vừa qua, nhân dịp đi công tác cho hãng ở Hà Nội, Lâm ghé Sàigòn thăm nhà và về làng thăm quê cũ. Một sự việc bất ngờ và cảm động là chú Lâm đã tìm được dấu tích của Nga ngày xưa. Đuợc biết nàng đã trốn ra Bắc năm 1956 và sau ngày Viẽt cộng cưỡng chiếm miền Nam, nàng trở về với quân hàm Đại úy và là vợ lẽ của một ông tướng già Việt cộng. Hiện nay nàng đang ở Sàigòn, khu cư xá sĩ quan Chí Hòa và ông tướng già đã chết. Trước khi trở về Mỹ, Lâm có đến tìm gặp nàng. Nga sững sốt mừng rỡ khi nhận ra Lâm em của tôi. Nàng vui vẻ kể chuyện xưa về tôi với chú Lâm và nói rõ lý do vì sao nàng bỏ xứ ra đi. Trong câu chuyện thăm hỏi, Lâm đã cố khơi lại chuyện tình ngày xưa của chúng tôi. Lâm nói: "Anh tôi vẫn nhắc nhớ về chị." Nàng cúi đầu lặng lẽ, giọng buồn buồn: "Dạ vâng, tôi đoán thế." Và nàng cảm động cho biết người làng đã kể: Có lần tôi một mình lái xe về thăm vườn cũ tìm lại người xưa, và người xưa không còn nữa. Lâm tiếp tục thăm dò: "Chị có biết anh tôi ngày xưa làm gì không?" "Dạ tôi biết, nghe nói anh ấy là một phi công trong Không Lực Cộng Hòa." "Chị có oán hận, căm thù gì chúng tôi không?" Nga lắc đầu cười chua chát, "Tôi không nghĩ đến điều đó, và chẳng bao giờ nghĩ như vậy, nhất là đối với anh ấy..."

Nàng trả lời với đôi mắt mơ màng xa vắng. Chắc có lẽ chú Lâm đã vô tình khơi dậy những kỷ niệm thời học trò của nàng. Những kỷ niệm tưởng như đã chôn vùi dưới lớp bụi thời gian sau bốn mươi năm xa cách.

Và trong buổi chiều hôm đó, theo lời nhật xét của chú Lâm, Nga như "lội ngược giòng thời gian" tìm sống lại quãng đời con gái ngây thơ, cùng với mối tình thơ mộng và đẹp nhất của đời nàng. Vì đó là mối tình đầu và mối tình không có đoạn cuối.
 
***

Hồi Âm "GIÒNG ĐỜI..."
Nga Sàigòn.
 
Anh Duy thân mến,

Em ngồi viết lá thư này cho anh khi cơn mưa vừa mới tạnh. Cơn giông miền nhiệt đới ào ạt, kéo dài độ chừng hai tiếng đồng hồ, nhưng cũng đã làm cho cái nóng oi bức của Sàigòn dịu bớt. Mưa đã dứt, chỉ còn những giọt nước nhỏ thỉnh thoảng tí tách rơi trên miếng tôn mỏng hứng nước bên hiên nhà. Nghe tiếng giọt nước gõ đều đặn, rồi nghe tiếng nhịp tim mình đập, em bỗng thấy hình như mình mang một tâm trạng bồi hồi. Đặt bút viết là thư này cho anh, lòng em cũng cảm thấy bồi hồi như thủa ấy cầm tay anh lần đầu, mà không ngờ cũng là lần chào ly biệt.... Không biết rồi lá thư này có thể đến tay anh? Nếu may mà thư đến, đọc xong anh sẽ nghĩ gì? Thôi em cũng liều... Cầm bằng như gió mang đi...

Tuần trước em đến thăm chị Hạnh, người bạn làm việc cùng cơ quan với em trước đây. Chị ấy xin phục viên sớm, vì đồng lương nhà nước trả không đủ sống. Chưa kể là đôi ba tháng nhà nước không có tiền phát cho nhân viên. Chị Hạnh bây giờ làm nghề buôn chui sách báo nước ngoài. Ở chỗ này thì em phải giải thích thì anh mới rõ tại sao ngày nay nước mình lại có cái nghề lạ như vậy. Từ ngày các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngưng viện trợ, nhà nước cần ngoại tệ nên họ đã mở cửa, khuyến khích người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương. Tuy có lệnh kiểm soát gắt gao ở các cửa khẩu hải quan những món hàng quốc cấm như sách báo tuyên truyền của phe tư bản, nhưng tệ nạn tham nhũng tràn lan không có cách gì ngăn cản nổi. Vì thế, du khách chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền..v.v... thì cái gì to như con voi qua cũng lọt. Người dân ở quê nhà bây giờ không ai thèm đọc báo nhà nước, ngày nào ngày ấy tin tức đều nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích. Người ta còn khôi hài nói rằng chỉ có tin tức khí tượng là không sặc mùi tuyên truyền, còn hầu hết đều... cuội! Vì thế dân chúng mới lén lút thuê hoặc mua lại báo chí bằng Việt ngữ hay bằng ngoại ngữ xuất bản tại nước ngoài.

Gặp em, chị ấy vội kéo vào buồng trong nói nhỏ:
- Này Nga, tôi có món quà này, chắc Nga sẽ thích vô cùng

Em chưa kịp hỏi chi ấy món quà gì, chị Hạnh đã dúi vào tay em một tờ báo. Chị nói:
- Dấu cho kỹ vào người đi! Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng rồi hãy đem ra đọc. Đọc để xúc động vì "người ta" còn nhớ tới mình!

Nhìn trang bìa tờ báo có hình một nửa chiếc máy bay phản lực đậu trên phi đạo và tên tờ báo là Ngàn Sao, lại nghe chị Hạnh nói bóng gió xa xôi, em linh cảm một điều gì đó rất mơ hồ. Nửa năm trước, chú Lâm từ bên Mỹ đi công tác cho hãng về Việt Nam đến thăm em. Chú ấy nhắc đến anh, đến tình cảm anh vẫn âm thầm dành cho em. Giác quan thứ sáu xui em liên tưởng đến một điều gí đó (mơ hồ thôi) rằng anh, chàng Phi công Cộng Hòa lãng mạn, có thể đem chuyện tình hai đứa dệt thành văn? Cầm tờ báo trên tay, em run còn hơn bị B-52 trải thảm hay như hồi sơ tán phòng không ở Việt Bắc. Chị Hạnh trấn an:
- Làm gì mà run dữ vậy? Bề nào Nga cũng là cựu sĩ quan quân đội nhân dân, công an nào dám đụng đến?

Em run không phải là sợ công an khám xét thấy mình mang món hàng quốc cấm. Em run vì không hiểu điều dự đoán của mình có phải là sự thực. Em run vì liên tưởng đến người bạn năm xưa vẫn còn nhớ đến mình. Anh đừng cười em già rồi mà còn vớ vẩn.

Chị Hạnh là người bạn sát cánh với em vào thời kỳ chiến đấu dọc Trường Sơn. Chị ấy cũng là con nhà tiểu tư sản như mình, nên em thường nhỏ to tâm sự trong những lúc dừng quân. Em có kể cho chị ấy nghe về anh, người bạn học cùng trường thủa thiếu thời.

Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng, mọi người đều đã say giấc nồng, em len lén đem tờ báo ra chong đèn lên đọc. Em đọc từng trang, rồi em dừng lại ở bài viết mang tên tác giả Duy Lạc, "Chắc chắn là anh đây rồi?!" Em tự nhủ: Quả nhiên đúng như điều em dự đoán.


Thời gian trôi nhanh quá anh nhỉ? Thấm thoát đã bốn mươi năm rồi còn gì? Bao nhiêu tấn tuồng dâu bể diễn ra! Bao nhiêu nước chảy dưới cầu! Hai mái tóc xanh của đôi trẻ ngày nay đã bắt đầu điểm trắng.

Chiến tranh bùng nổ, anh từ Sàigòn về lánh nạn ở quê nhà. May mắn thay giặc chưa thể tràn về vùng đất của mình, nên chúng ta có một thời kỳ bình yên. Khí thế bừng bừng của phong trào giành độc lập xứ sở bốc cao khiến tất cả thanh niên hăm hở lên đường làm anh vệ quốc quân. Tuy bọn mình còn nhỏ mà trong trí óc non nớt cũng đã thấy lòng rộn ràng vui thích như đi trẩy hội ngày Xuân. Em còn nhớ đêm liên hoan, anh hát bài "Nhớ Chiến Khu". Lúc bấy giờ nghe giọng anh run run, em cứ tưởng anh vì cảm thương nỗi nhớ nhà của anh vệ quốc quân trong núi rừng thâm u; nào dè anh run ...vì ánh mắt ngưỡng mộ va say mê theo dõi của em. Thì ra nhãn lực của em cũng khá đấy anh Duy nhỉ?

Dạo ấy lần đầu tiên nghe anh trả bài thầy giáo, em mới để ý thấy cách phát âm của anh khác với những học trò con trai trong huyện. Chẳng hạn, "mờ mịt" thì anh phát âm thành "mờ mịch" hay "vui quá" thành "vui góa". Và còn nhiều chữ độc đáo nữa...

Mới đầu bọn học trò trong lớp, rồi về sau bọn học trò của cả trường thường nhại cách phát âm ấy để trêu ghẹo anh. Thoạt tiên em cũng cười hùa theo bọn chúng, nhưng thấy anh chẳng phản ứng gì, mà chỉ nhún vai cười khỉnh rất là... Sàigòn, tự nhiên em đâm ra thích cái giọng ấy mới kỳ chứ! Mỗi lần đến giờ học, em đều cầu mong thầy giáo gọi anh lên trả bài để em được nghe cái giọng ngồ ngộ ấy.

Anh còn nhớ lần đi cắm trại đầu tiên do nhà trường tổ chức trước vụ Hè 51 không? Lớp mình chia làm bốn toán mà anh thì ở toán A, còn em ở toán B. Khi đến nơi, ai nấy đều lo căng lều dựng trại của toán mình, trong lúc đó anh lại chạy sang loay hoay giúp em làm chuyện này chuyện kia. Cử chỉ lăng xăng của anh có vẻ vụng về, khiến cho em vừa buồn cười vừa cảm động. Vì thế, buổi tối họp lửa trại, em mới lén dúi vào tay anh củ khoai em vùi trong bếp lúc nấu cơm chiều. Em còn trêu:
- Trại sinh bên toán B ăn hết "thịch" (thịt) cá rồi, em chỉ còn củ khoai nóng này tặng anh dùng đỡ cho "dzui"!

Chẳng những anh không giận vì bị em nhái giọng, anh chìa tay ra cầm củ khoai một cách hồn nhiên, mà miệng còn ấp úng nói gì nghe không rõ, em bỗng cảm thấy thương anh chi lạ!

Dân trong làng kế cận khu cắm trại, tối đến xong việc đồng áng cũng ra tham dự trò chơi lửa trại của đám học sinh. Ánh lửa hồng chờn vờn nhảy múa ngọn thấp ngọn cao, nhịp nhàng lung linh với tiếng đàn guitar bập bùng của anh tạo nên cảnh tượng kỳ ảo rất liêu trai. Con Thủy, con gái ông Xã Tài; con Nhạn, con gái ông Lý Trân, ngồi bên em cứ huých cùi chỏ vào hông em từng chập, mỗi lần chúng nó trông thấy anh gật gà gật gù theo điệu nhạc trầm bổng. Dường như lúc bấy giờ anh say sưa với âm thanh của từng nốt nhạc, không thèm biết gì đang xảy ra chung quanh. Khách quan nhận xét, cả huyện mình đâu có cậu học trò nào chơi đàn ngọt như anh? Chúng nó cũng khoái và để ý "người Sàigòn" có mái tóc chải bảy ba tango lắm đấy! Anh có biết rằng anh đã lọt vào mắt xanh của bọn học trò con gái tinh quái ấy không?

Em còn nhớ tính anh ít nói. Trong lúc mọi người ngồi huyên thuyên, thình thoảng anh chêm một câu pha trò hóm hỉnh mà nhiều khi người nghe không tinh ý, phải mất ba, bốn ngày sau mới hiểu. Cái tính "nghịch" ấy ngày nay anh vẫn không bỏ. Trong bài "Giòng Đời", em vẫn đọc thấy thấp thoáng cái văn phong đó. Anh cao lớn, nhưng không gầy như cây sậy và anh đâu có đen đúa xấu trai như anh tự chế diễu mình trong bài văn? Lại còn bày đặt tự chê mình học dốt!

Xong màn văn nghệ và đọc tin thời sự về những chiến thắng công đồn đả viện của bộ đội cụ Hồ cho dân chúng nghe, bọn học trò chạy xuống bờ biển nô đùa với sóng nước. Em nhớ đêm đó trăng lên muộn và trời trong xanh không một vẩn mây. Hình như đốm lửa trại cuối cùng tàn lụi rồi trăng mới lên. Khác với những học trò khác cùng lớp, anh không xuống bờ cát giỡn nước, giỡn trăng. Em thấy anh ngồi tựa lưng vào một cây dừa lả ngọn và đôi mắt đăm chiêu nhìn ra trùng khơi. Anh ngồi yên một cách thư thái, tự tại, đẹp như một pho tượng! Em biết rồi, người đó đang mơ mộng vì người đó đang yêu?! Lúc bấy giờ những cơn sóng bạc đầu phản chiếu ánh trăng nhấp nhô vờn nhau xô vào bờ, có làm cho tim anh xao xuyến, hởi người nghệ sĩ với cây đàn?

Em là con gái, trời ban cho em cảm nhận bén nhạy hơn con trai. Kinh nghiệm đời trải qua, chắc bây giờ anh đã hiểu rõ điều đó. Hồi ấy, mới thoáng thấy cử chỉ ân cần và ánh mắt trìu mến của anh nhìn em trong lớp học, ngoài sân trường, em đã đọc được ý nghĩ thầm kín của anh. Nhưng em là con gái, đặt biệt vào thời buổi ấy, luân lý và bản tính rụt rè của phụ nữ đâu cho phép em có một cử chỉ gì gọi là biểu đồng tình, dù trong thâm tâm em cũng rất cảm mến anh. Cũng có những đêm nằm một mình vẩn vơ bên cửa sổ ngắm trăng, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa cau bưởi từ đâu đưa lại, em chợt thèm có anh bên cạnh để... ngắm anh (!) Hoặc để luồn những ngón tay thon nhỏ của mình vào tóc người yêu. Đó là cái rạo rực rất tự nhiên của người con gái ở tuổi dậy thì khi biết mình đang có một anh chàng đang ngấm nghé.

Em đã đọc đi đọc lại nhiều lần lá thư anh trao. Vì sự bất cẩn của em, con nhỏ Thủy - con gái ông Xã Tài - đọc trộm lá thư em dấu trong sách cho mượn, thế là nó đem đi mách lẻo với mọi người, gây ra sự hiểu lầm đáng tiếc khiến anh sinh lòng oán hận em. Nếu lá thư ấy bị một người bạn gái nào khác đọc thì chẳng đến nỗi nào. Đằng này con nhỏ Thủy vốn thầm yêu trộm nhớ anh, nên khi nó vớ được lá thư là nó kháo ầm lên để anh phải thẹn thùng với đám bạn gái của em và hai bà chị họ. Nghĩ lại, em chẳng phiền trách gì nó. Âu cũng là tại sợi chỉ hồng không se duyên cuộc tình chúng mình!

Ngày anh cầm tay em lần đầu (và cũng là lần cuối), em đã khóc, đã hết lòng gạn hỏi tại sao anh bỏ học và cố tình lẩn tránh em. Anh cứ lầm lì im lặng. Không ngờ bữa đó anh đã quyết định xuống tàu trở lại chốn phồn hoa. Tuổi trẻ thường hay đặt tự ái quá cao! Anh đi biền biệt để lại cho em nỗi nhớ đoạn trường. Em thẩn thờ biến nhác việc học hành và công việc trong nhà. Ba mẹ không hiểu chuyện cứ rầy la. Bỗng nhiên em cung sinh lòng trách cứ anh. Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt. Bạn bè em một đôi đứa đem lòng thương hại, vài đứa trêu ghẹo em mang mối sầu tương tư. Em lại càng giận anh hơn.

Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ chia đôi đất nước. Một số người trong làng xã tập kết ra Bắc. Gia đình em vẫn ở lại vì thuộc thành phần địa chủ. Tổng Thống Diệm về nước, đẩy mạnh chiến dịch Tố Cộng. Gia đình em không bị ảnh hưởng gì, vì người ta biết thời ấy ai cũng chống Tây. Nhưng chỉ có một số cán bộ Tố Cộng của ông Diệm lợi dụng quyền thế, thấy em có nhan sắc nên họ gây nhiều khó dễ để cưỡng bách em trao thân gởi phận. Nếu em liều mình nhắm mắt đưa chân, chắc chắn em sẽ cũng được yên thân. Nhưng tính em ương ngạnh, không chấp nhận sự hà hiếp, em bèn tìm đường lên núi để rồi ngả về phía bên kia. Thân gái dậm trường, liều mình bỏ gia đình ra đi đến phương trời vô định, em nào muốn làm một cuộc phiêu lưu? Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!

Anh Duy yêu dấu,

Nhiều đêm em đã khóc, vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều. Nhớ đến kỹ niệm của những đêm trăng ở làng quê mình, của những buổi chiều hai đứa rong chơi lang thang trên bờ ruộng lúa vừa mới gặt, của mùi hương ngai ngái từ gốc rạ thoảng đưa trong gió. Và em còn nhớ đến cái giọng Sàigòn ngồ ngộ của anh nữa!

Sự đãi ngộ ở miền Bắc không tốt đẹp như những gì mà "người ta" đã ngọt ngào dụ dỗ em. Cũng như những bộ mặt đàn ông nham nhở (xin lỗi anh) tìm đủ mọi cách chiếm đoạt em. Ở vào bước đường cùng, lần này em đành nhắm mắt đưa chân. Em kết hôn với một ông sĩ quan già hơn em mười lăm tuổi. Trong bài "Giòng Đời" anh kể rằng em làm lẽ một viên tướng già là không đúng sự thực. Nhưng mà thôi, không sao! Làm vợ chính thức hay làm lẽ, số phận em vẫn hẩm hiu "bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!"

Chiến tranh ngày càng lan rộng và khốc liệt. Phi cơ oanh tạc hầu như mỗi ngày. Đa số nhân dân miền Bắc đều mong mỏi được quân đội miền Nam giải phóng, vì họ hết chịu đựng nổi đói khổ và cuộc sống hắc ám, rình rập. Em là người miền Nam tập kết muộn. Tập kết vì tưởng mình sẽ đến một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay bị huyễn hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn cảnh người bóc lột người! Em chỉ tha thiết một điều: Chiến tranh sớm chấm dứt, hòa bình mau trở lại để em được quay về xóm làng xưa. Em tình nguyện xung phong đi chiến trường B (tức là xuôi Nam ) với hy vọng nhìn lại Bố Mẹ già và đàn em dại. Em lên đường như một người tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, chứ không phải là kẻ lên đường "làm nghĩa vụ quốc tế" như người ta cổ võ đề cao. Trở về đó, em lại nghe tin đồn phong phanh rằng anh đã trở thành người phi công khu trục của chính quyền Sàigòn. Chao ôi! có lần nào anh say sưa oanh kích mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy? May mà điều ấy không bao giờ xảy ra để chúng ta khỏi bị ngỡ ngàng.

Có lần em nhặt được tờ truyền đơn kêu gọi chiêu hồi từ trên phi cơ thả xuống. Em vội dấu kỹ tờ truyền đơn vào lần túi áo trong để chờ dịp thuận tiện là trốn thoát, nhưng cơ hội không bao giờ đến với em cả!

Khi miền Nam được "giải phóng", em nghĩ rằng đây là cơ hội em có thể tìm gặp người bạn tình năm xưa.. Em biết rằng gặp nhau thì đôi ta mỗi đứa ván đã đóng thuyền, không còn hy vọng gì chấp nối, nhưng ít nhất mình cũng còn được thấy nhau sau mấy mùa chinh chiến. Niềm hy vọng ấy vội tan biến khi em biết rằng anh đã ra đi nước ngoài. Tâm tình em xen lẫn hai nỗi buồn, vui: Buồn vì không gặp được anh và vui vì anh không phải rước cảnh tù đày. Anh còn nhớ Loan, em gái của em. Nó kết hôn với Cảnh, một người Thiếu tá trong quân đội Cộng Hòa. Chồng nó bị đưa đi "học tập cải tạo", rồi chết vì lao lực trong rừng thiêng nước độc và vì thiếu dinh dưỡng. Loan nhờ chồng em can thiệp cho Cảnh. Như anh biết đấy. Tuy chồng em là tướng Việt cộng mà cũng đành bó tay bất lực. Từ đó Loan không bao giờ nhìn mặt em nữa. Chị em cật ruột bỗng hóa thành kẻ thù. Nỗi khổ tâm ấy do ai gây ra, mà một mình em phải hứng chịu sự khinh khi của gia đình? Tại sao em phải chịu nhiều điều oan nghiệt thế hở anh Duy?

Năm kia, chú Lâm về Sàigòn, chú ấy kể rất nhiều chuyện về anh. Em vô cùng xúc động vì anh vẫn giữ được trong ký ức hình ảnh và tình cảm trân trọng đối với người bạn gái đầu đời. Vận nước điêu linh, thế hệ chúng mình chẳng may phải hứng chịu nhiều thua thiệt. Thật là vô lý khi hai kẻ yêu nhau trở nên vô tình quay mũi súng bắn vào nhau. Ước mong sao những lớp người thuộc thế hệ mình nhìn rõ chân lý để cùng nhau xây dựng lại xứ sở hoang tàn bởi một thứ chủ nghĩa ngoại lai phi nhân. Mình phải có bổn phận nói rõ cho con cháu nên lấy thương yêu, chứ không phải hận thù, bù đắp những lỗi lầm của người đi trước. Có như thế thì mới hàn gắn được những đổ vỡ lớn lao trong quá khứ.

Đúng bốn mươi năm trước, dưới rặng dừa ở làng quê, anh e ấp trao em lá thư tỏ tình. Anh nao nức chờ đợi hồi âm. Em chưa kịp hồi âm thì không may xảy ra chuyện hiểu lầm. Bốn mươi năm sau, (nhờ đọc được bài văn của anh trên báo), từ phương trời này, một người đàn bà góa bụa và mái tóc đã bắt đầu điểm sương lại ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất để kể lể chuyện đời. Xin cám ơn anh đã cho em một chút nắng trong buổi chiều tàn, "Một Chút Mặt Trời Trong Ly Nước Lạnh!" Đời em truân chiên đã gặp nhiều bất hạnh, nhưng kể từ khi đọc những dòng tâm tư của anh trên trang báo, em cảm thấy được an ủi phần nào. Bây giờ thì em mới biết ở nơi cuối trời xa thẳm kia có một chàng trai Sàigòn thủa nào vẫn còn giữ trong tim hình ảnh và kỹ niệm đằm thắm của người yêu ban đầu.

Thư viết cho anh đã khá dài. Những giọt nước mưa trên mái nhà cũng đã thôi gõ đều đặn xuống tấm tôn. Đêm đã xuống từ lâu.. Cảnh vật yên lặng như tờ, nhưng dường như trong tiềm thức em vẫn nghe tiếng sóng biển rì rào và âm thanh xào xạc của những ngọn lá dừa cọ xát vào nhau. Biết bao giờ hai chúng ta có thể lại cùng nhau dạo chơi hóng gió chiều và nghe sáo diều trên đường làng quê cũ anh nhỉ? Ấy chết! Em lại lẩn thẩn mất rồi! Đừng! Chúng mình không nên gặp lại nhau để anh còn giữ trong trí nhớ hình ảnh con bé Nga mười mấy tuổi, má lúm đồng tiền và nụ cười răng khểnh.

Em xin dừng bút. Cầu chúc anh dồi dào sức khỏe và gia đình gặp nhiều sự may mắn, an khang, thịnh vượng. Và xin anh nhớ cho rằng ở nơi xứ sở nghèo khó này vẫn có một người luôn luôn thương nhớ anh.

Thân ái,

Em gái anh, Nga

Tái bút: Để tránh sự kiểm soát của nhà nước, em trao lá thư này cho một sĩ quan sắp sang Mỹ theo diện H.O. và nhờ ông ta gửi đến chú Lâm bằng đường bưu diện. Em hy vọng rằng chú Lâm vẫn còn ở tại địa chỉ mà chú cho em trước đây. Đọc thư em, ước mong anh sẽ hài lòng khi thấu rõ tâm tình của em.

Friday, December 2, 2011

MỘT TOA THUỐC HAY

Chúng ta cùng nhau tập dùng thử :
I. Sức khỏe
Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”.
II. Bí quyết trường thọ
1. Chấp nhận với những gì mình đang có
2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình
3. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.
III. Phòng ngừa bệnh tật
1. Không vui quá hại tim
2. Không buồn quá hại phổi
3. Không tức quá hại gan
4. Không sợ quá hại thần kinh
5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên
7. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua
IV. Thức ăn & uống trong ngày:
Một củ hành: chống ung thư
Một quả cà chua: chống tăng huyết áp
Một lát gừng: chống viêm nhiễm
Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch
Một trái chuối: làm phấn chấn thần kinh, bớt lo âu, chống táo bón, giảm được béo.
Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng
Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể.
V. Triết lý của người Trung Hoa hiện đại:
1. Một Trung Tâm là sức khỏe
2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên: Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có: Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải:
- Phải vận động
- Phải biết cười
- Phải lịch sự hòa nhã
- Phải biết nói chuyện và
- Phải coi mình là người bình thường..
VI. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân
1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí
3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí
4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí
5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí
6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí
7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí
8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.
1. Hãy dành thì giờ để suy nghĩ Đó là nguồn sức mạnh.
2. Hãy dành thì giờ để cầu nguyện Đó là sức mạnh toàn năng.
3. Hãy dành thì giờ cất tiếng cười Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.
4. Hãy dành thì giờ chơi đùa Đó là bí mật trẻ mãi không già.
5. Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu Ưu tiên TẠO HÓA ban.
6. Hãy dành thì giờ để cho đi Một ngày quá ngắn để sống ích kỷ.
7. Hãy dành thì giờ đọc sách Đó là nguồn mạch minh triết.
8. Hãy dành thì giờ để thân thiện Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.
9. Hãy dành thì giờ để làm việc Đó là giá của thành công.
10.Hãy dành thì giờ cho bác ái Đó là chìa khóa cửa TỪ BI.